Hệ thống tổ chức Giáo hội của Công giáo ở Việt Nam (P5)

Hội đoàn Công giáo từ buổi đầu đến năm 1954

Hội đoàn Công giáo từ buổi đầu đến cuối thế kỷ XIX

Hội đoàn là hình thức tổ chức tập hợp tín hữu Công giáo ở các xứ, họ đạo. Nguồn gốc ra đời, hình thức tổ chức của hội đoàn Công giáo ở Việt Nam rất phức tạp và đa dạng. Cũng như việc ra đời của tổ chức xứ - họ đạo, việc ra đời hội đoàn Công giáo có tính lịch sử, phụ thuộc vào sự phát triển của Giáo hội Công giáo ở Việt Nam, đồng thời phụ thuộc vào những sự kiện lịch sử dân tộc Việt Nam. Thời kỳ đầu, hội đoàn được gọi là họ hay họ thánh là để phân biệt với những phường, họ xã hội, cũng có thể là để phân biệt với họ tộc (chẳng hạn như họ Nguyễn, họ Trần).

Nhà thờ Phủ Cam năm 1931

Họ (hội đoàn) nào xuất hiện sớm nhất? Tài liệu thu thập của chúng tôi cho thấy, hội/ họ xuất hiện sớm nhất là hội Rôsariô[1] được lập ở địa phận dòng Đa Minh vào thời điểm năm 1678 dưới thời Thừa sai Thập (Juan de Curuz)[2]. Về sau hội này được phát triển sang địa phận Tây Đàng Ngoài dưới thời Giám mục Phêrô Maria Đông (Gendreau)[3].

Ở địa phận Tây Đàng Ngoài, hội đoàn thành lập sớm hơn cả có lẽ là hội/ họ Áo Đức Bà núi Carmêlô, thời gian khoảng giữa thế kỷ XIX. Tiếp theo là hội/ họ Lái (trái) tim Đức Chúa Giêsu được thành lập do Thư chung của Giám mục Bảo Lộc Phước (Puginier) ban hành ngày 19.3.1873. Thư chung đề tháng 9.1898 xác nhận: “Trong địa phận này có ba họ thánh bề trên đã lập là họ Áo Đức Bà, họ Lái tim Đức Chúa Giêsu, họ Rôsariô Đức Bà”[4].

Ở Nam Bộ, có một số hội đoàn sau:

Hội con Đức Mẹ: Mục đích giáo dục và thánh hóa các thiếu nữ.

Hội Thánh Thất: Giúp các gia đình sống lành mạnh, thánh thiện.

Hội Thánh Thể: Gia tăng lòng tôn sùng yêu mến Chúa Giêsu Thánh Thể.

Hội Các Đẳng: cầu nguyện cho người qua đời.

Hội Mai Khôi: Lập ngày 29.1.1905 tại xứ Tân Định, cổ vũ lần chuỗi trong gia đình.

Hội Thiên Thần Hộ Thủ: Tập hợp các em trai trong ca đoàn và các em giúp lễ.

Hội Tương Tế, v.v...

Đến đầu thế kỷ XX, các tổ chức tập hợp tín hữu Công giáo ở các địa phận miền Bắc vẫn được gọi là họ. Ví dụ, năm 1905, Giám mục Đông ra Thư chung lập họ Quản giáo[5]. Đặc biệt năm 1915, ở nhà thờ họ xứ Thái Bình lập nên họ Bà Thánh Imelda[6]. Nhưng cũng vào thời điểm này, ngày 9.10.1903, Giám mục Đông ra Thư chung lập hội Santi. Vậy là chữ hội đến tận thời kỳ này mới xuất hiện.

Đề cập đến hội đoàn Công giáo, không thể không đề cập đến một loại hội đoàn đặc biệt, đó là dòng ba, mà cụ thể là Dòng ba Đa Minh. Đây là dòng ba phần đời, “gồm những người sống giữa thế gian, tuân giữ kỷ luật dòng ba, sống biệt lập hoặc sáp nhập vào một đoàn thể gọi là huynh đệ đoàn dòng[7]. Cuốn Sử ký Địa phận Trung, in năm 1916 cho biết vào thời điểm này, dòng Đa Minh ngoài đời được gọi là Họ Dòng ba Ông thánh Duminhgô và (họ) đã lan ra trong khắp cả địa phận, hầu chẳng có một họ (đạo) nào, dù rất nhỏ mọn mặc lòng, mà chẳng có ông bà nào vào dòng ba ông thánh Duminhgô. Đừng kể các chị em bên trong nhà mụ là những kẻ ở trong Nhà chung, thì trong địa phận này có một vạn hai ngàn năm trăm mười hai ông bà thuộc về dòng thứ ba ông thánh Duminhgô[8].

Cho đến cuối thế kỷ XIX, hội đoàn lập ra ở thời kỳ này chủ yếu để các tín hữu sống đạo, giữ đạo. Khi ra Thư chung thành lập hội Santi, Giám mục Đông nêu 3 lý do thành lập hội là:

- Khuyến khích lòng mộ đạo, Mình Máu Thánh Chúa Giêsu.

- Những kẻ phạm tội vì Mình Máu Thánh Chúa Giêsu có dịp cầu nguyện đền tội.

- Hội viên giúp nhau về phần linh hồn, khi sống, khi rình sinh thì và khi chết đoạn.

Các hội được tổ chức chặt chẽ, giám mục là người chuẩn y thành lập, linh mục chánh xứ là người chịu trách nhiệm. Trụ sở của các hội là nhà thờ xứ đạo. Nếu nhà thờ xứ đạo rộng rãi, có hai bàn thờ, một bàn thờ phụ sẽ được dành cho các hội. Các hội có kinh cầu riêng, có Thánh Quan thầy. Quỹ hội được gây bằng đóng nguyệt liễm. Mỗi hội đều xây dựng lề luật. Hội (đoàn) Công giáo cho đến đầu thế kỷ XX đều thành lập ở Việt Nam, chưa thấy có hội đoàn truyền từ nước ngoài vào.

Hướng đạo Việt Nam năm 1950

Hội đoàn Công giáo từ đầu thế kỷ XX đến năm 1954

Như đề cập ở phần trên, với việc thành lập hội Santi ngày 9.10.1903 thời Giám mục Đông, chữ hội để chỉ tổ chức tập hợp tín hữu Công giáo mới chính thức xuất hiện. Năm 1935, với việc ra đời của Đoàn Thanh niên Công giáo, chữ đoàn mới chính thức xuất hiện để rồi sau đó tổ chức tập hợp tín hữu Công giáo được gọi chung là hội đoàn. Tuy nhiên có những hình thức tập hợp tín hữu để phục vụ nghi lễ như: Kèn, trống, trắc, bát âm, giai đoạn này không gọi là hội mà gọi là phường: Phường Bát âm, phường Kèn Tây, phường Bắc Nhạc, phường Nam Nhạc[9].

Một hình thức tổ chức khác không gọi là hội, đoàn hay phường mà được gọi là Đạo binh Đức Mẹ (Legio Maria). Song đây cũng là một tổ chức hội đoàn mà thôi.

Năm 1932, Hội Tôn Nữ Vương được thành lập. Năm 1933 là năm có nhiều hội đoàn Công giáo thành lập như: Hội Bà thánh Anna, hội Bà thánh Têrêsa, hội Ông thánh Giuse. Từ năm 1935, một hình thức tập hợp thanh niên là tín hữu Công giáo có tên là Đoàn thanh niên Công giáo được thành lập. Hệ thống tổ chức có 3 cấp: Liên đoàn (toàn quốc), địa phận và đoàn xứ, họ đạo. Năm 1938 xuất hiện các đoàn Nghĩa Binh ở các địa phận Hà Nội, Bùi Chu, Vinh.

Trong khoảng thời gian từ năm 1935 đến 1945 có một số hội đoàn mới xuất hiện như: Hội cầu nguyện còn có tên là Tông đồ cầu nguyện (địa phận Hà Nội), hoặc Cầu nguyện truyền giáo (địa phận Bùi Chu), Hướng đạo sinh Công giáo, Hội thánh Vinh Sơn còn gọi là Vanh Xăng (Vincent) hoặc hội Bác ái Vinh Sơn, Đạo binh Đức Mẹ (Legio Maria), Đoàn thanh niên Công nhân Công giáo (thành lập năm 1941).

Hội đoàn giai đoạn này phong phú, một số hội đoàn có nguồn gốc từ nước ngoài được truyền bá và phát triển vào Việt Nam như Hướng đạo sinh Công giáo, Hội thánh Vinh Sơn (ra đời ở nước Pháp năm 1833), truyền vào Việt Nam khoảng thời gian từ 1935 - 1949, Đạo binh Đức Mẹ (thành lập ngày 7.9.1921 tại thành phố Dublin thuộc Ireland), Đoàn thanh niên Công nhân Công giáo (lập ở châu Âu năm 1893).

Có thể nói giai đoạn từ đầu thế kỷ XX đến năm 1954 là giai đoạn mà hội đoàn Công giáo Việt Nam bộc lộ khá đầy đủ những đặc điểm về loại hình và các biểu hiện hoạt động[10].

PGS.TS Nguyễn Hồng Dương


1 Rôsariô được dịch ra ẩm Hán-Việt là Mân Côi, Môi khôi, nghĩa là Hoa hồng. Một trong những tước hiệu của Đức Maria được Công giáo tôn là Đức Mẹ Mân Côi.

2 Sử ký địa phận Trung, Sđd, tr.18.

3 Xem: Sách thuật lại các Thư chung địa phận Tây Đàng Ngoài, in tại Kẻ Sở, 1908, tr.83.

4 Sách thuật lại các Thư chung địa phận Tây Đàng Ngoài, Sđd, tr. 119.

5 Sử ký Địa phận Trung, Sđd, tr. 216.

6 Sử ký Địa phận Trung, Sđd, tr. 216.

7 Thủ bản dỏng ba Đa Minh Việt Nam, Chân Lý xuất bản, in lần thứ ba, Sài Gòn 1975, tr. 82.

8 Sử ký địa phận Trung, Sđd, tr 212.

9 Hương ưóc các làng Lưu Phương (Kim Sơn, Ninh Bình), làng Phú Nhai (Xuân Trường, Nam Định) đểu ghi.

10 Viết phần Tổ chức giáo xứ, giáo họ Công giáo từ buổi đầu đến năm 1954, chúng tôi biên soạn theo cuốn sách của PGS.TS. Nguyễn Hồng Dương: Tổ chúc xứ, họ đạo Công giáo ở Việt Nam lịch sử - hiện tại và những vấn đề đặt ra, Nxb Khoa học xã hội, 2011, tr.19 - 79.

Từ khoá:
Chia sẻ:

Bình luận

có thể bạn quan tâm

Thêm chính sách giúp người lao động  cải thiện lương hưu
Thêm chính sách giúp người lao động cải thiện lương hưu
Từ ngày 10.5, Nghị định số 85/2026/NĐ-CP chính thức có hiệu lực, quy định về bảo hiểm hưu trí bổ sung tự nguyện nhằm hình thành một kênh tích lũy dài hạn cho người lao động, bên cạnh chế độ BHXH hiện hành.
Từ cướp biển thành nông dân
Từ cướp biển thành nông dân
Trước xu thế thời cuộc, việc nghiêm túc thực thi pháp luật về sở hữu trí tuệ vẫn được đẩy mạnh, chấm dứt việc xài “chùa” và làm “cướp biển” của đông đảo dân mạng.
Điểm tựa tuổi già  nơi giáo xứ
Điểm tựa tuổi già nơi giáo xứ
Giáo xứ có thể làm gì để những năm tháng xế chiều của người cao tuổi trở nên ý nghĩa, và tràn đầy tiếng cười? Thông qua các góc nhìn từ mục vụ, y tế và tâm lý dưới đây, sẽ thấy rằng đôi khi chỉ cần một tủ sách...
Thêm chính sách giúp người lao động  cải thiện lương hưu
Thêm chính sách giúp người lao động cải thiện lương hưu
Từ ngày 10.5, Nghị định số 85/2026/NĐ-CP chính thức có hiệu lực, quy định về bảo hiểm hưu trí bổ sung tự nguyện nhằm hình thành một kênh tích lũy dài hạn cho người lao động, bên cạnh chế độ BHXH hiện hành.
Từ cướp biển thành nông dân
Từ cướp biển thành nông dân
Trước xu thế thời cuộc, việc nghiêm túc thực thi pháp luật về sở hữu trí tuệ vẫn được đẩy mạnh, chấm dứt việc xài “chùa” và làm “cướp biển” của đông đảo dân mạng.
Điểm tựa tuổi già  nơi giáo xứ
Điểm tựa tuổi già nơi giáo xứ
Giáo xứ có thể làm gì để những năm tháng xế chiều của người cao tuổi trở nên ý nghĩa, và tràn đầy tiếng cười? Thông qua các góc nhìn từ mục vụ, y tế và tâm lý dưới đây, sẽ thấy rằng đôi khi chỉ cần một tủ sách...
Xóm nghề biến lục bình thành sinh kế
Xóm nghề biến lục bình thành sinh kế
Dọc theo những con kênh ở miền Tây Nam Bộ, lục bình từ lâu đã trở thành một phần rất đỗi quen thuộc. Từ loài thực vật trôi nổi ven sông, ít nhiều góp phần gây ô nhiễm do cản dòng chảy của nước, người dân đã khéo léo biến...
Vị trí Dinh Trấn Biên Phú Yên, nơi Anrê Phú Yên được rửa tội (p2)
Vị trí Dinh Trấn Biên Phú Yên, nơi Anrê Phú Yên được rửa tội (p2)
“Khúc sông bên lở, bên bồi” là quy luật của thiên nhiên. Dòng chảy sông Cái bị thiên nhiên bồi lấp tại bãi cát thôn Hội Tín, giáp ranh thôn Hội Phú, đoạn liền kề nghĩa trang giáo xứ Mằng Lăng ngày nay.
Bình an nơi tâm hồn
Bình an nơi tâm hồn
Có những lời thầm thì hóa thành bình an. Việc nhìn nhận những thiếu sót chính là khoảnh khắc lòng can đảm hiện diện rõ nét để bắt đầu hành trình hoàn thiện bản thân.
Tiếng xao động trên tàu dừa
Tiếng xao động trên tàu dừa
Có những chuyến đi không nhằm tìm kiếm điều gì cụ thể, chỉ đơn giản là để lòng mình được lắng lại. Tôi đến miền Tây trong những ngày cần một khoảng yên đủ rộng để nghe rõ hơn tiếng nói bên trong mình.
Chọn ở quê hay thành phố cho tuổi già an yên
Chọn ở quê hay thành phố cho tuổi già an yên
Câu hỏi “về già nên sống ở quê hay thành phố” tưởng chừng đơn giản nhưng lại là nỗi trăn trở của nhiều gia đình hôm nay. Khi tuổi trẻ gắn với những cuộc mưu sinh nơi đô thị, thì tuổi già người ta lại có xu hướng chọn sự...
Cơn mưa đầu mùa
Cơn mưa đầu mùa
Nắng quá, chịu hết xiết, ai cũng đợi mưa. Gặt xong, chị hàng xóm cứ “mơi mưa”, “mốt mưa” riết mà không thấy. Nước ngầm hụt tầng, mặt đất khô khốc, nghe mưa râm ran ngoài kia làm nôn nao, nhưng ở tận Nghệ An - Hà Tĩnh, coi các...