Ngã đau mà lại sáng cho người tông đồ

Chẳng biết đang phi nước kiệu hay phi nước đại, nhưng đã ngã ngựa thì không tróc vảy cũng trầy da. Chàng thanh niên Phaolô trên đường Đamát dường như khó quên cú ngã năm nào. Chính vì thế mà thánh Phaolô sau này thường xuyên nhắc lại biến cố ngã ngựa này. Cũng có thể có đau phần nào nhưng điều chính yếu là sau cú ngã ấy ngài đã sáng ra, đã ngộ ra nhiều chân lý khiến cho cuộc đời, lối đi của ngài đổi thay hoàn toàn. Phaolô đã ngộ ra những gì sau cú ngã ấy? 

La_conversion_de_Saint_Paul_Giordano_Nancy_3018 (1).jpg (1.48 MB)

1. Để thành công thì nguyên lòng nhiệt thành vẫn chưa đủ: Quả thật, để hoàn tất một dự định lớn, để đạt đích lý tưởng đặt ra, thì ta không thể không có lòng nhiệt thành. Người có lòng nhiệt thành là người luôn can đảm đi đầu trong những việc khó và đó là những việc phải làm và nên làm. Không ngại gian nguy, không sợ vất vả…, sẵn sàng đối diện với chông gai và cả thất bại đó là những đức tính của người nhiệt thành.

Dưới góc độ này thì có thể nói Phaolô có thừa sự nhiệt thành. Khi nghĩ rằng nhóm người theo ông Kitô là thứ lạc đạo, là mầm mống nguy hại cho dân tộc, cho tôn giáo, chàng thanh niên Phaolô tình nguyện xông pha tiền tuyến để tiêu diệt. Sau khi trở lại thì sự nhiệt thành của Phaolô càng rõ nét hơn nhiều. Dù gian nguy, dù khốn khó, không gì ngăn được bước chân người nhiệt thành Phaolô. Trong số các tông đồ hình như ít ai chịu thử thách khốn khó nhiều như Phaolô: “Năm lần bị người Do Thái đánh bốn mươi roi bớt một; ba lần bị đánh đòn; một lần bị ném đá; ba lần bị đắm tàu; một đêm một ngày lênh đênh trên biển khơi” (2Cr 11,24-25).

Nhờ cú ngã tại Đamát, Phaolô ngộ ra rằng chỉ nguyên sự nhiệt thành thôi vẫn chưa đủ.

2. Có lòng nhiệt thành và sự hiểu biết (có tri thức) vẫn chưa đủ: Nói về sự học hay xét về mặt kiến thức thì khó có ai bì với Phaolô. Xuất thân từ một gia đình khá giả, lại được làm môn sinh của Gamalien, một vị tôn sư lỗi lạc, Phaolô đáng làm thầy của tất cả các tông đồ còn lại. Đọc kỹ các bài giảng thuyết của thánh nhân trong sách Công vụ Tông đồ, hay thẩm định kiến thức và văn chương của ngài qua các bức thư lớn nhỏ, chúng ta dễ dàng chân nhận sự uyên bác của thánh nhân. Có thể nói là tài ăn nói của ngài bị hạn chế (ngài có tật nói lắp), nhưng khó có ai sánh bì kiến thức của ngài.

Thế nhưng Phaolô đã cảm nhận, đúng hơn là đã ngộ ra rằng, nguyên chỉ sự nhiệt thành và kiến thức rộng vẫn chưa đủ cho người Tông đồ của Đức Kitô. Cần phải có sự cảm nghiệm rằng mình được yêu thương một cách nhưng không. Ngài đã xác nhận điều này nhiều lần, cách riêng với các môn đệ thân tín: “Sở dĩ tôi được xót thương là vì Đức Giêsu Kitô muốn tỏ bày tất cả lòng đại lượng của Người nơi tôi là kẻ đầu tiên, mà đặt tôi làm gương cho những ai sẽ tin vào Người để được sống muôn đời” (1Tm 1,16). Chính khi cảm nghiệm mình được yêu thương một cách vô điều kiện, nghĩa là không vì sự gì tốt đẹp nơi mình, thì ta sẽ sẵn sàng quảng đại hiến dâng cho tha nhân, vì như thánh nhân thú nhận: “Tình yêu của Đức Kitô thúc bách tôi”.

3. Trong đời hoạt động tông đồ, nỗ lực một mình là không đủ, cần có sự hợp tác của nhiều người trong tinh thần hiệp nhất và sự hiệp thông. Con Thiên Chúa làm người không đơn thương độc mã trong hành trình rao giảng Tin Mừng. Người đã chọn gọi 12 tông đồ góp sức, đã chọn gọi 72 môn đệ chung phần. Chứng nhân tập thể luôn có thế giá ưu việt. Phaolô đã ngộ ra rằng để xây dựng Nước Trời ngay tại trần thế này thì Chúa dùng mỗi người mỗi việc, mỗi cách thế khác nhau. Người thì làm ngôn sứ, kẻ thì làm thầy dạy, người thì chữa bệnh, kẻ thì phân biệt Thần khí… Ngài đã dùng hình ảnh các chi thể trong thân thể để minh họa sự cần thiết lẫn nhau trong việc xây dựng Nước Chúa (x.1Cr 12). “Thần Khí tỏ mình ra nơi mỗi người mỗi cách, là vì ích chung” (1Cr 12,7). Trong công cuộc xây dựng Nước Chúa thì “Phaolô trồng, Apôlô tưới, còn Thiên Chúa mới làm cho mọc lên” (1Cr 3,6).

Để gìn giữ sự hiệp nhất, cần thiết phải có sự hiệp thông giữa các thành phần. Đặc biệt trong đời tông đồ chứng nhân, sự hiệp thông như là một trong những nguyên nhân quan trọng làm nên sự thành công. Người sống trong tình hiệp thông với tha nhân là người đang cùng chung một sức sống với người khác. Sống hiệp thông thì không chỉ “một con ngựa đau, cả tàu không ăn cỏ”, mà thực sự như lời Công đồng Vatican II : “Vui mừng và hy vọng, ưu sầu và lo lắng của con người ngày nay, nhất là của người nghèo và những ai đau khổ, cũng là vui mừng và hy vọng, ưu sầu và lo lắng của các môn đệ Chúa Kitô, và không có gì thực sự là của con nguời mà lại không gieo âm hưởng trong lòng họ” (MV số 1). Thánh Phaolô đã sống tình hiệp thông này cách cụ thể: “Tôi đã trở nên yếu với những người yếu, để chinh phục những người yếu. Tôi đã trở nên tất cả cho mọi người, để bằng mọi cách cứu được một số người. Vì Tin mừng, tôi làm tất cả những điều đó, để cùng được thông chia phần phúc của Tin Mừng” (1Cr 9,22-23).

4. Mọi sự đều là hồng ân: Để ngộ ra chân lý này, Phaolô cảm nghiệm và thú nhận sự hèn yếu của mình. Ngài chỉ là đứa trẻ sinh non, là vị tông đồ rốt hết và không xứng làm tông đồ của Chúa Kitô. Dù đã nỗ lực hết mình nhưng vẫn còn đó nhiều điều ngài muốn thì lại không làm, còn những điều không muốn thì lại làm (x.Rm 7,17-20). Hơn nữa, cái dằm trong xác thịt của ngài luôn làm ngài nhức nhối và khiến cho ma quỷ thường xuyên vả mặt Ngài (x 2Cr 7-8). Chính vì thế thánh Phaolô đã không ngần ngại lặp đi lặp lại rằng ngài không có gì để mà khoe khoang hay hãnh diện ngoài những yếu đuối của mình (x.2Cr 11,30; 12,5).

Xuất phát từ thái độ khiêm nhu, chân thành nhìn nhận con người của mình, không chút che đậy hay lấp liếm, thì ta sẽ dễ dàng nhận ra hồng ân nhưng không của Thiên Chúa. Từ chỗ nhìn nhận hồng ân của Chúa thì ta sẽ thấy quyền năng vô biên của Người, “điều mà thế gian cho là điên dại, thì Thiên Chúa đã chọn để làm cho những người khôn ngoan phải xấu hổ; điều mà thế gian cho là yếu hèn, thì Thiên Chúa đã chọn để làm cho những gì là mạnh mẽ phải hổ ngươi” (1Cr 1,27).

5. Yêu thương là chu toàn mọi lề luật (Rm 14,8). Trước ân tình vô biên và nhưng không của Thiên Chúa, thì chẳng có sự đáp trả nào của chúng ta được gọi là cân xứng. Tình yêu mới đáp lại tình yêu. “Giả như tôi có nói được nhiều thứ tiếng, làm được nhiều phép lạ… mà không có bác ái thì thì chỉ phèng la não bạt” (x.1Cr 13). “Trên hết mọi đức tính, anh em phải có lòng bác ái: đó là mối dây liên kết tuyệt hảo” (Cl 3,14).

Cú ngã của thánh Phaolô không chỉ mở mắt thánh nhân mà còn mở luôn con tim của ngài. Ngài nhận ra mọi sự rồi sẽ qua đi, kể cả đức tin lẫn đức cậy. Duy chỉ đức ái mới tồn tại vạn đại thiên thu (x.1Cr 13,13).

Linh mục Giuse Nguyễn văn Nghĩa, GP Ban Mê Thuột

 

Chia sẻ:

Bình luận

có thể bạn quan tâm

Để hiểu Chúa Thánh Thần
Để hiểu Chúa Thánh Thần
Người môn đệ thừa sai là người “được Chúa Thánh Thần thánh hóa và tỏa sáng bằng các ân sủng của Ngài”. Nhưng muốn được Chúa Thánh Thần thánh hóa, người đó phải hiểu Ngài là ai và phải làm gì để nối kết với Ngài.
Chúa Giêsu lên trời
Chúa Giêsu lên trời
Trời ở đây không phải là một khoảng không gian rõ rệt ở trên đầu mọi người, nhưng là một tình trạng. Sách Giáo lý Hội Thánh Công giáo nói đến điều này trong nhiều số, từ 659-667, 2794-2796.
Mấy suy nghĩ từ tháng dâng hoa
Mấy suy nghĩ từ tháng dâng hoa
Trong Hội Thánh Việt Nam, tháng Năm quen gọi là tháng hoa. Tại các nhà thờ, ít là chiều thứ Bảy, thường có nghi thức dâng hoa kính Ðức Mẹ. Ðây là một truyền thống đạo đức giàu gợi ý.
Để hiểu Chúa Thánh Thần
Để hiểu Chúa Thánh Thần
Người môn đệ thừa sai là người “được Chúa Thánh Thần thánh hóa và tỏa sáng bằng các ân sủng của Ngài”. Nhưng muốn được Chúa Thánh Thần thánh hóa, người đó phải hiểu Ngài là ai và phải làm gì để nối kết với Ngài.
Chúa Giêsu lên trời
Chúa Giêsu lên trời
Trời ở đây không phải là một khoảng không gian rõ rệt ở trên đầu mọi người, nhưng là một tình trạng. Sách Giáo lý Hội Thánh Công giáo nói đến điều này trong nhiều số, từ 659-667, 2794-2796.
Mấy suy nghĩ từ tháng dâng hoa
Mấy suy nghĩ từ tháng dâng hoa
Trong Hội Thánh Việt Nam, tháng Năm quen gọi là tháng hoa. Tại các nhà thờ, ít là chiều thứ Bảy, thường có nghi thức dâng hoa kính Ðức Mẹ. Ðây là một truyền thống đạo đức giàu gợi ý.
Thần Khí sự thật
Thần Khí sự thật
Chúa Giêsu đã dặn dò các môn đệ trước khi Người lên trời: “Chúa Thánh Thần là Đấng Bảo Trợ khác đến ở với anh em luôn mãi. Đó là Thần Khí Sự thật”. Nhưng Thần Khí là ai và mỗi người phải làm gì để cảm nhận được Ngài?
Con đường sự thật và sự sống
Con đường sự thật và sự sống
Giáo hội mời gọi ta nhìn vào Đức Giêsu như con đường dẫn đến sự thật toàn diện và sự sống vĩnh hằng để đồng hành với Chúa và với nhau.
Cửa chuồng chiên
Cửa chuồng chiên
Giáo hội luôn mời gọi tín hữu nhìn vào Đức Giêsu như vị mục tử nhân lành để cầu nguyện cho ơn thiên triệu linh mục và tu sĩ. Đây là cơ hội nhìn vào cánh đồng truyền giáo tại Việt Nam để xem tình trạng các linh mục, tu...
Đồng hành  với Đấng Phục Sinh
Đồng hành với Đấng Phục Sinh
Đức Giêsu Phục Sinh đang đồng hành với mỗi người tín hữu như với hai môn đệ đi về Emmaus. Chính Đấng Phục Sinh giúp ta giữ vững được niềm vui, bình an và hy vọng trước tất cả những đau khổ, thử thách, thất bại trong cuộc đời.
Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn gặp gỡ Đức Giáo Hoàng Lêô XIV
Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn gặp gỡ Đức Giáo Hoàng Lêô XIV
Trong khuôn khổ chuyến thăm và làm việc tại Italia từ ngày 11-15.4.2026, theo TTXVN, chiều ngày 11.4.2026 (giờ Việt Nam), Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn đã gặp gỡ Đức Giáo Hoàng Lêô XIV tại Vatican. Dịp này, Chủ tịch Quốc hội đã trao thư của Tổng Bí...
Gặp Chúa Phục Sinh  giàu lòng thương xót
Gặp Chúa Phục Sinh giàu lòng thương xót
Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã muốn lễ Chúa nhật thứ hai sau Phục Sinh được dành đặc biệt cho việc tôn sùng Thiên Chúa giàu lòng thương xót.