Tết Việt trong cảm thức của giáo sĩ Alexandre de Rhodes

Trong hành trình truyền giáo, giáo sĩ Alexandre de Rhodes (1591-1660) có mối lương duyên sâu sắc với đất nước ta, lúc ấy được phân chia thành Đàng Ngoài - Đàng Trong. Bước chân truyền giáo của A. de Rhodes đã xuôi Nam, ngược Bắc ở cả hai đàng.

1.jpg (92 KB)

Sau khi thực hiện công cuộc truyền giáo ở Đàng Ngoài 1627-1630, vị giáo sĩ quê Avignon của Pháp đã viết Histoire du Royaume de Tunquin (Lịch sử vương quốc Đàng Ngoài). Bản thảo này sau đó được ấn hành năm 1650 bằng tiếng Ý, và năm 1652 bằng tiếng Latin. Đó chỉ một trong các tác phẩm quan trọng của ông về nước Việt, cùng với Phép giảng tám ngày, Hành trình và Truyền giáo, Tự vị Việt Bồ La.

Với Lịch sử vương quốc Đàng Ngoài, vị giáo sĩ người Pháp không chỉ viết về “quả ngọt” truyền giáo, mà thông qua đó, những hiểu biết về lịch sử, văn hóa, phong tục đất Đàng Ngoài nửa đầu thế kỷ XVII cũng được ông cảm nhận, ghi chép. Và, những dấu ấn của Tết Nguyên đán - Tết cả của dân tộc ta nơi Đàng Ngoài gây ấn tượng mạnh với tác giả của Tự vị Việt Bồ La.

3.jpg (70 KB)
 Tranh khắc gỗ của Henri Oger về trồng cây nêu

Trước hết là nói về tục kiêng cữ, Alexandre de Rhodes ghi: “Có một tục lệ lâu đời nhưng kỳ dị còn giữ ở khắp xứ Đàng Ngoài, đó là những người già, cả nam cả nữ, vào cuối năm, họ sợ sệt trốn trong chùa như một nơi trú ẩn để tránh thế lực tà ma họ gọi là Võ Tuấn. Họ cho rằng việc của vị này là sát hại và bóp cổ hết những người già nua tuổi tác thuộc cả hai giới. Do đó, những kẻ khốn đốn này trong ba hay bốn ngày cuối năm đến trú trong nội địa chùa chiền, đêm ngày không dám ra, cho mãi tới ngày mùng một Tết mới trở về nhà, vì cho rằng quyền lực của tà ma hãm hại và là thù địch của người già đã chấm dứt. Đó là điều còn xảy ra vào cuối năm nơi người già cả”. Việc trốn tránh tà ma được miêu tả ở trên không biết gốc nguồn như thế nào. Nhưng rõ ràng là, trong dịp Tết Nguyên đán, người Việt kiêng cữ, phòng trừ ma quỷ thật, thể hiện rõ ở việc chưng đào Tết nơi hiện diện hai vị thần Thân Thư và Uất Luật; dựng cây nêu, vẽ hình cung tên sân nhà với ý nghĩa “bằng cách đó làm một hàng rào bằng tên bắn thần kỳ ngăn ma quỷ tiến vào nhà”, như giáo sư Nguyễn Văn Huyên từng đề cập trong Hội hè lễ Tết của người Việt

Cây nêu, như một phương tiện nhận diện ngày Tết đến Xuân về, cũng được Lịch sử vương quốc Đàng Ngoài lưu ý. Theo đó, “cuối năm họ thói dựng gần cửa nhà một cột dài vượt quá mái nhà, trên ngọn treo một cái giỏ hay một túi đục thủng nhiều lỗ đựng đầy thứ tiền bằng giấy vàng giấy bạc”. Việc dựng cây nêu ngày Tết như một chỉ dấu về Tết cả của người Việt được người phương Tây quan tâm. Linh mục dòng Tên Giovanni Filippo de Marini (1608-1682) trong tác phẩm Relation nouvelle et curieuse des Royaumes de Tunquin et de Lao cũng nói đến việc trồng cây nêu diễn ra vào ngày 30 Tết. Tỏ ra sâu sắc trong việc am hiểu ý nghĩa của cây nêu, vị linh mục người Ý giải thích cây nêu “có ý nghĩa là tiêu trừ tà ma ra xa chỗ nhà ở”. Điều này khác với cảm nhận của tác giả Phép giảng tám ngày khi ông cho rằng việc ấy là vì “họ điên dại tưởng tượng là cha mẹ họ mất, vào cuối năm có thể bị túng thiếu và cần đến vàng hay bạc để trả nợ”. Sở dĩ sự liên tưởng ấy, phải chăng do Alexandre de Rhodes thấy trên cây nêu đựng những thứ tiền giấy, vàng mã?

4.jpg (251 KB)

Riêng đối với việc trả nợ cuối năm, Lịch sử vương quốc Đàng Ngoài thể hiện hiểu biết sâu sắc về đời sống tinh thần của người Việt, khi thông tin, người Việt không khất nợ quá năm trừ khi quá túng thiếu, nên cuối năm việc nợ nần phải giải quyết xong, vì “sợ chủ nợ bực mình nên đem lời khiển trách động tới tổ tiên và tổ tiên oán thán con cháu và kẻ thừa kế” […] “họ sợ chủ nợ ngày mùng Một Tết đến đòi nợ, dĩ nhiên là bắt họ trong ngày đó phải xuất tiền của ra trả”, và nếu thế sẽ rất tai hại, là điềm gở cả năm. Thật ra, chẳng cứ người Việt, các thương nhân phương Tây khi đến Đàng Ngoài làm ăn buôn bán, cũng tuân theo tục lệ bất thành văn này. Trong tư liệu của công ty Đông Ấn Anh còn ghi lại về đất Kẻ Chợ (Thăng Long) của Đàng Ngoài, đã để lại tư liệu liên quan đến tục lệ đó. Vào dịp cuối năm Âm lịch, ngày 19.1.1696 (tức 15 tháng Chạp) “các con nợ khất đến ngày 21 tới sẽ trả tiền”. Tới ngày 21.1.1696 (17 tháng Chạp) “Thương điếm nhận tiền của Ba Twien” […] “Hai ông Yngja Hay và Nhacabun hứa mai sẽ thanh toán tiền”...

Ngoài một số miêu tả về Tết Nguyên đán của người Việt ở Đàng Ngoài, vị giáo sĩ đã góp công to lớn vào sự hình thành, phát triển của chữ Quốc ngữ còn đề cập đến một lễ nghi rất trọng hậu của đất nước thuần nông, diễn ra vào dịp đầu năm mới, đó là lễ tịch điền. Cảm nhận về lễ tịch điền ở Đàng Ngoài dịp năm mới được ghi lại như sau:

“Mở đầu là binh sĩ tập hợp từ khắp nước về đây, nghiêm chỉnh hàng lối và rất đông, có tới mấy ngàn, tất cả đều mang khí giới, kẻ đem cung tên, người mang gươm giáo và súng ống. Sau đó là sĩ quan và hàng quý tộc một phần đi ngựa cảnh, một phần cưỡi voi, chừng ba trăm tất cả, có trải thảm quý, đã được huấn luyện dừng bước và tuân lệnh. Vị tướng lãnh cai trị nước như phó vương, gọi là chúa Thanh Đô vương (tức Trịnh Tráng - Người dẫn chú) đi sau hàng quý tộc, ngự trong chiếc xe kéo thấp thiếp vàng. Theo sau là một cỗ voi phủ áo sang trọng, có người dắt, chúa tùy tiện có khi cưỡi voi, tùy tính khí mỗi khi muốn làm đẹp lòng dân đứng nghinh tiếp và ca ngợi. Sau đó là một đám rất đông các ông nghè, ông cử, ông tú mặc áo dài bằng lụa là thứ hàng quý màu tím sẫm, mỗi người với phù hiệu chức vụ hay cấp bậc mình. Cuối cùng là vua ngự trên ngai vàng lộng lẫy của nhiều người khiêng trên vai, ngai phủ một tấm thảm thêu vàng và xanh, màu sắc dành riêng cho một mình ngài. Với đoàn thể quân ngũ, vua ra khỏi nhà gọi là đền rộng chừng bằng một thành phố lớn, rồi qua những phố chính trong kinh thành gọi là Kẻ Chợ, sau đó tới một cánh đồng rộng xa kinh thành chừng một dặm, nơi đây tất cả đoàn thể đến trước đang chờ ngài với rất đông dân chúng. Ngài bước xuống ngai, rồi sau khi đọc lời khấn và long trọng bái Trời; ngài cầm cán cày được trang hoàng nhiều màu sắc và chạm trổ kỳ công, cày mấy phút và mở một luống trong thửa ruộng, để dạy cho dân biết cách làm việc, không nghỉ và chăm sóc đất ruộng. Rồi tới lượt chúa là vị cai trị cả nước, vị có quyền thế đầy đủ và thế giá cao cả trên tất cả thần dân, ông là người đầu tiên tiến đến bái kính đức vua, sấp mình trên đất. Sau ông là hoàng tử, tướng lãnh và toàn thể hoàng tộc, sau cùng là quân sĩ và toàn dân bái phục đức vua và hoan hô chúc mừng. Đó là cách cung kính vĩ đại nhất và sự nhìn nhận long trọng nhất đối với vua, một lần vào dịp đầu mỗi năm”.

5.jpg (148 KB)
Lịch sử Vương quốc Đàng Ngoài, bản chữ Latin và Việt ngữ

Lễ cày tịch điền ở trên, chính là sự tiếp nối, kế thừa tục cày tịch điền có từ đời vua Lê Đại Hành thời Tiền Lê thế kỷ X. Đại Việt sử lược chép lại về sự kiện mở đầu ấy: “Năm Đinh Hợi (987) là năm thứ 7 niên hiệu Thiên Phúc, vua bắt đầu cày ruộng (Tịch điền) ở núi Đọi bắt được hũ vàng. Lại một lần cày ở núi Hối bắt được hũ bạc. Do đó, ruộng được mang tên là Kim Ngân Điền”. Địa điểm núi Đọi được nhắc tới ở đây, trong Việt sử địa dư của Phan Đình Phùng ghi: “Đọi Sơn, còn có tên núi Long Đọi, tại xã Đọi Sơn, huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nội (nay thuộc Hà Nam - Người dẫn chú)”. Dẫu không đề cập đến gốc nguồn của của tục cày ruộng tịch điền, nhưng qua những dữ liệu ở trên, vị giáo sĩ đến từ phương Tây xa xôi cũng am hiểu lễ tục của quốc gia phương Đông “Dĩ nông vi bản”, khi nhấn mạnh ý nghĩa của tục lệ này để dạy cho dân biết cách làm việc, không nghỉ chăm sóc đất ruộng”.

Tuy Tết Việt chỉ được đề cập với một dung lượng hạn hữu tại chương 29, Quyển 1 của Lịch sử vương quốc Đàng Ngoài, nhưng đó vẫn là những dữ liệu quý giá, sống động trong cảm thức của một giáo sĩ phương Tây về Tết Nguyên đán ở Đàng Ngoài thế kỷ XVII. Những dữ liệu ấy, là nguồn tài liệu quan trọng bổ sung vào hiểu biết của chúng ta về tính lịch sử, văn hóa của phong tục, tín ngưỡng Việt thời xưa, mà cụ thể ở đây, Tết Việt.

TRẦN ĐÌNH BA

 

Từ khoá:
Chia sẻ:

Bình luận

có thể bạn quan tâm

Nếp nhà truyền đức tin
Nếp nhà truyền đức tin
Tuổi già có những niềm vui bình dị bên con cháu. Với tôi, mỗi ngày hai lượt đưa đón cháu ngoại đi học đã là một niềm vui.
Nhân phẩm là trung tâm trong truyền thông
Nhân phẩm là trung tâm trong truyền thông
Hướng về Ngày Thế giới Truyền thông Xã hội lần thứ 60 với chủ đề “Giữ gìn khuôn mặt và tiếng nói của con người” hôm 17.5.2026, nhiều giáo phận ở Việt Nam đã tổ chức các hoạt động gặp gỡ, học hỏi và cử hành phụng vụ, suy tư...
Đừng hiểu sai mô hình chăm sóc người già của giáo xứ
Đừng hiểu sai mô hình chăm sóc người già của giáo xứ
Mấy số báo vừa qua, Công giáo và Dân tộc đã gợi mở một câu chuyện thiết thực qua bài viết về mô hình chăm sóc người già ở xứ đạo Suối Cát (GP Xuân Lộc), qua Trang Dư luận với những ý kiến mong muốn giáo xứ là điểm...
Nếp nhà truyền đức tin
Nếp nhà truyền đức tin
Tuổi già có những niềm vui bình dị bên con cháu. Với tôi, mỗi ngày hai lượt đưa đón cháu ngoại đi học đã là một niềm vui.
Nhân phẩm là trung tâm trong truyền thông
Nhân phẩm là trung tâm trong truyền thông
Hướng về Ngày Thế giới Truyền thông Xã hội lần thứ 60 với chủ đề “Giữ gìn khuôn mặt và tiếng nói của con người” hôm 17.5.2026, nhiều giáo phận ở Việt Nam đã tổ chức các hoạt động gặp gỡ, học hỏi và cử hành phụng vụ, suy tư...
Đừng hiểu sai mô hình chăm sóc người già của giáo xứ
Đừng hiểu sai mô hình chăm sóc người già của giáo xứ
Mấy số báo vừa qua, Công giáo và Dân tộc đã gợi mở một câu chuyện thiết thực qua bài viết về mô hình chăm sóc người già ở xứ đạo Suối Cát (GP Xuân Lộc), qua Trang Dư luận với những ý kiến mong muốn giáo xứ là điểm...
Ngôi thánh đường tám mái tại Đồng Nai
Ngôi thánh đường tám mái tại Đồng Nai
Hiện diện tại vùng đất giáo hạt Túc Trưng, thuộc giáo phận Xuân Lộc, nhà thờ Tam Phú suốt hơn 65 năm qua vẫn sừng sững như một kiệt tác kiến trúc độc bản. Mỗi chi tiết, mỗi đường nét và hình dáng của công trình này đều mang một...
Chọn "việc nhà đạo” làm nơi gắn bó
Chọn "việc nhà đạo” làm nơi gắn bó
Giữa nhịp sống hiện đại, khi nghề nghiệp thường được đo bằng thu nhập hay cơ hội thăng tiến, vẫn có những người âm thầm chọn một hướng đi khác: làm việc trong môi trường nhà đạo. Họ mang theo hành trang tri thức, chọn công việc trong tâm thế...
Giáo dục giới tính sứ mạng mục vụ cấp thiết
Giáo dục giới tính sứ mạng mục vụ cấp thiết
Trong hai ngày 16 và 17.5.2026, tại Trung tâm Thánh Mẫu Tàpao, giáo phận Phan Thiết đã tổ chức khóa tập huấn “Giáo dục giới tính cho thiếu nhi và thiếu niên”, quy tụ khoảng 200 tham dự viên gồm 60 linh mục trẻ, 30 nữ tu và 110 giáo...
Giáo tỉnh Hà Nội xây dựng kế hoạch đào luyện môn đệ thừa sai
Giáo tỉnh Hà Nội xây dựng kế hoạch đào luyện môn đệ thừa sai
Trong bối cảnh của năm mục vụ 2025-2026 về chủ đề “Mỗi Kitô hữu là môn đệ thừa sai”, chương trình tập huấn “Cùng nhau xây dựng kế hoạch đào luyện môn đệ thừa sai cho thiếu nhi và người trẻ hôm nay” do Ủy ban Loan báo Tin Mừng...
Sống điều đã học
Sống điều đã học
Hình ảnh những lớp giáo lý đông đúc vốn đã rất quen thuộc trong các giáo xứ, dễ đưa đến cảm giác yên tâm rằng việc đào tạo đức tin của thế hệ trẻ đang diễn ra vững vàng.
Ưu tư môi trường nơi một giáo phận miền sông nước
Ưu tư môi trường nơi một giáo phận miền sông nước
Ngày 6.5.2026, tại nhà thờ giáo xứ Đài Đức Mẹ Tân Hiệp, Ban Phát triển Con người toàn diện giáo phận Long Xuyên phối hợp với Ban Mục vụ Môi trường Tổng Giáo phận TPHCM đã tổ chức chương trình học hỏi về bảo vệ môi trường dành cho các...