Thoát khỏi “ám ảnh”, để Tiếng Việt trở nên phong phú

Khi gặp phải chữ nghĩa khác, cách nói khác của người dân Ðàng Trong nói chung, người dân vùng châu thổ Cửu Long nói riêng, một lý cớ thường được đem ra giải thích cho rằng do “kỵ húy”. Nhưng, nhiều khi đó chính là Nam âm (quốc âm), nhưng bị úp chụp cách nói đó là nói trại, nói chệch do kỵ húy để buộc sửa lại theo… âm Hán - Việt (?!).

1.

Nếu nói về “kỵ húy”, thì đâu ch ny sinh dưới đời nhà Nguyn. Đã có dưới thi nhà Trn, t thế k 13 tr đi, nên có nhiều chữ nghĩa ở ngoài Bắc cũng đã phải nói trại đi, biến âm này kia, quen riết qua hàng trăm năm rồi ngỡ là âm gốc nguyên bản (đâu dè đó là cách nói, cách viết tránh “kỵ húy” chớ không còn đúng “căn gốc” nữa).

Chẳng hạn, địa danh Bình Xuyên, Phú Xuyên ở ngoài Bắc, kỳ thực gốc là Bình Nguyên, Phú Nguyên, nhưng vì phạm tên húy “Nguyên” (源) của vua Mạc Tuyên Tông (1535-1561) nên phải đổi.

Các đời chúa Nguyễn không đặt ra việc kỵ húy

2.

Đây, xin mời xem vài trường hợp.

2a) Cả người trong Nam lẫn ngoài Bắc đều gi ngôi vua là “Hoàng” 皇 (Hoàng đế 皇 帝).

Người ngoài Bắc cũng vẫn gọi “hoàng” với nghĩa “màu vàng” (黄). Nhưng, người trong Nam đã mở rộng thêm cách gọi: “màu vàng”được gi làhuỳnh”, như gánh hát “Huỳnh Kỳ” (cờ vàng) của Bạch Công tử Phước George với Cô Bảy Phùng Há tài danh. Gánh Huỳnh Kỳ nức tiếng một thời, tập họp nhiều đào kép nổi tiếng xứ Nam Kỳ.

Độc gi ắt từng đọc, từng nghe cái lối suy đoán rằng “huỳnh” do đọc trại đi, kỵ húy “Hoàng” trong danh tánh chúa Nguyễn Hoàng.

Xin lưu ý: Các đời chúa Nguyễn không đặt ra vic k húy, bởi vì sự nghiệp mở cõi và định cõi cần tập hợp nhân tâm, cởi mở, phóng khoáng (đến đời các vua Nguyễn mới có lệnh cấm kỵ này kia). Nói vậy, cũng đủ gii o trước suy diễn về kỵ húy trong danh tính chúa Nguyễn Hoàng.

Nhân tiện, xin được nhắc: kỵ húy thời xưa là dựa trên ký tự viết bằng chữ Hán, chớ không phải kỵ húy cái tên đánh vần... bằng chữ Quốc ngữ (phần lớn đời nay toàn suy diễn theo hướng này, thật sai trật). Tức, không có kỵ húy cái tên đánh vần “h-o-à-n-g”, mà giả định có kỵ húy là “kỵ” cái ch như này: 潢 (“Hoàng”, trong tên Nguyễn Hoàng 阮 潢).

“Hoàng” 潢, đọc theo âm Hán - Việt, nghĩa là “hồ ao”, khác hoàn toàn với ký tự黃 “hoàng” nhưng nghĩa là “màu vàng”, thành thử không rơi vào kỵ húy gì hết.

“Hoàng” 潢, nếu đọc theo quc âm (Nam âm), nghĩa là “trang hoàng”, cũng không mang nghĩa “màu vàng” gì ráo tri!

Do đó “huỳnh” không mắc gì đến cái gọi là kỵ húy “hoàng”. Vì vậy không cần phải sửa “huỳnh” thành “hoàng” làm chi. Đó, cụ Huỳnh Thúc Kháng (黃叔沆), ở đây chữ 黃 được gi là “Huỳnh”.

Ngay ở ngoài Bắc tưởng 黃 chỉ có thể đọc là “hoàng” mới đúng răm rắp? Nào dè, không chỉ trong Nam gọi “lưu huỳnh” (硫 黃) mà ở ngoài Bắc cũng đã quen dần với lối gọi này hơn, cũng “lưu huỳnh” - ở đây cũng ký tự 黃 mà được đọc rõ rành: “huỳnh”.

2b) Đời nhà Mạc, Mạc Phúc Nguyên 莫 福 源 (1535 - 1561) ban lệnh húy kỵ. Vậy, ắt hẳn người ngoài Bắc bấy giờ phải đổi sang cách viết khác, nói khác, để không phạm húy. Người dân sợ phạm húy phải đọc khác đi, và họ đọc ra sao?

Chúng ta thấy người ngoài Bắc đọc là … “Phúc” cho ký tự 福 (kể từ thế kỷ 16, cách đọc này đi vào lối nói thông dụng ở ngoài Bắc). Tức “Phúc”, như vậy, không hẳn là cách đọc nguyên bản trong tên gọi của vua. Phải chăng cách đọc nguyên bản của 福 chính là Phước (do “kỵ húy” nên phải đọc khác đi, mà thành “Phúc”)?

* Khi tra từ điển Hán - Việt, gõ chữ “Phước” thì không có Hán tự nào được đọc “Phước”. Mà “Phước” phải tra cứu trong từ điển chữ Nôm: 福. Sẵn nói nhanh, chữ Nôm (văn tự dùng ghi không chỉ âm Hán - Việt mà, hệ trọng hơn, là ghi hết thảy quốc âm thuần Việt), có nhiều cách cấu tạo: ghép hai chữ Hán làm một (tự dạng này, người Hoa nhìn vô là khỏi hiểu vì “lạ” mắt), dùng nguyên dạng chữ Hán theo cách đồng âm d nghĩa, d âm đồng nghĩa, d âm d nghĩa“Phước” 福 là dị âm đồng nghĩa với “Phúc” (“Phúc” là âm Hán - Việt, “Phước” là Nam âm).

Võ đường (武 堂) chớ không ai đi gọi “vũ đường”

3.

Còn nhiều từ vựng cần “giải ảo” có phi k húy mà nói tri đi, hay đúng ra đó chính là Nam âm? Khuôn kh bài này chỉ đơn cử vài trường hợp (nêu ở phần số 2), để hình dung.

Câu hỏi đặt ra: vì sao, khi gặp phải những chữ nghĩa khác, cách nói khác, thay vì chịu khó tìm hiểu, lại… chỉ có một lý cớ thường được đem ra giải thích “chẳng qua do kỵ húy mà nói, viết chệch đi” (nghe riết sáo mòn quá sức)?

Đây chính là di chứng tâm lý đã thành nếp, dính dấp đến tiềm thức quần chúng (có người gọi là “vô thức tập thể”) kéo dài đăng đẳng dưới các triều đại quân chủ. Như sau:

3a) Với người dân châu thổ sông Hồng, người dân miền Bắc đều đã làm quen cuc sng vi nhng chiếu ch “kỵ húy” - từ giữa thế kỷ 13 khi vua Trần Thái Tông ban ra việc húy kỵ, rồi qua nhà Hồ, nhà Hậu Lê (Lê sơ), nhà Mạc, nhà Hậu Lê (Lê trung hưng), mỗi triều đại ấn lệnh “kỵ húy” mỗi khác. Rồi, triều đình nhà Nguyễn (kinh đô Huế) cũng ban chiếu chỉ “kỵ húy” này kia.

Tính ra từ giữa thế kỷ 13 cho đến cuối thế kỷ 19 (năm 1884 khi Pháp chính thức đặt cỗ máy cai trị theo hình thức “bảo hộ” tại vùng châu thổ sông Hồng), có đến sáu thế kỷ rưỡi, quá dài, quá lâu, thành thử người dân miền Bắc khó mà thoát khỏi “ám nh k húy”!

Ám nh? Nghĩa là phải biến báo mà viết khác, mà nói khác, để không phm húy, để không b pht, tr thành phn x sinh tn.

3b) Với người dân châu thổ Cửu Long, họ sống trong giai đoạn chịu tác động bởi lệnh “kỵ húy” này kia chỉ từ năm 1802 (bắt đầu triều đại nhà Nguyễn) cho tới năm 1884 (vùng miền này chính thức trở thành xứ thuộc địa của Pháp, thoát khỏi tập tục “kỵ húy” ban ra bởi triều đình), chỉ hơn 80 năm mà thôi. Rất ngắn ngủi, so với khoảng 650 năm chịu ám nh k húy nơi cư dân châu thổ sông Hồng.

Trước đó, các chúa Nguyễn không có việc kỵ húy. Giả sử muốn nói đến tác động luật lệ của chế độ quân chủ, xin chú ý, vùng châu thổ Cửu Long chỉ chính thức hoàn tất sáp nhập vào Đàng Trong thuộc thẩm quyền cai trị của các chúa Nguyễn vào năm 1757-1758.

Vậy, tính từ 1757-1758 cho đến năm 1884, chỉ gần 130 năm (nếu tính từ “cột mốc” xác lp ch quyn khi đầu ti Gia Định năm 1698, tính cho đến năm 1884, cng li cũng ch hơn 180 năm), vn là ngắn hơn nhiều so với 650 năm mà “việc kỵ húy” đối với người miền Bắc đã đi vào tim thc.

3c) Vì thiếu chú ý đến đặc điểm lịch sử khác nhau giữa hai vùng (nêu ở 3a, 3b) nên dễ rơi vào tâm lý “suy bụng ta ra bụng người”: gặp phải những chữ nghĩa khác, cách nói khác từ người dân ở châu thổ Cửu Long - Đồng Nai, lập tức nghĩ ngay đến sự biến báo để tránh phạm húy (!?).

THAY LỜI KẾT

“Kỵ húy” có không? Có, NHƯNG trong rất nhiều trường hợp chẳng do “kỵ húy” gì hết. Sự khác biệt trong từ vựng, trong chữ nghĩa:

- Hoặc là kết quả của tiếp biến, giao thoa ngôn ngữ với các tộc người từng cư trú (bản địa) nơi vùng đất mới mở cõi;

- Hoặc là, cần nhấn mạnh, đó chính là Nam âm được gìn gi (Nam âm thì khác với âm Hán - Việt).

Xin cùng nhau dặn lòng nhớ rằng, người Việt chúng ta còn cả kho tàng Nam âm, đừng ép uổng cái gì cũng phải theo âm Hán - Việt (có những lúc cần dùng âm Hán - Việt nhưng không phải là “chuẩn” đến mức ám ảnh… ).

NGUYỄN CHƯƠNG

Từ khoá:
Chia sẻ:

Bình luận

có thể bạn quan tâm

Thêm chính sách giúp người lao động  cải thiện lương hưu
Thêm chính sách giúp người lao động cải thiện lương hưu
Từ ngày 10.5, Nghị định số 85/2026/NĐ-CP chính thức có hiệu lực, quy định về bảo hiểm hưu trí bổ sung tự nguyện nhằm hình thành một kênh tích lũy dài hạn cho người lao động, bên cạnh chế độ BHXH hiện hành.
Từ cướp biển thành nông dân
Từ cướp biển thành nông dân
Trước xu thế thời cuộc, việc nghiêm túc thực thi pháp luật về sở hữu trí tuệ vẫn được đẩy mạnh, chấm dứt việc xài “chùa” và làm “cướp biển” của đông đảo dân mạng.
Điểm tựa tuổi già  nơi giáo xứ
Điểm tựa tuổi già nơi giáo xứ
Giáo xứ có thể làm gì để những năm tháng xế chiều của người cao tuổi trở nên ý nghĩa, và tràn đầy tiếng cười? Thông qua các góc nhìn từ mục vụ, y tế và tâm lý dưới đây, sẽ thấy rằng đôi khi chỉ cần một tủ sách...
Thêm chính sách giúp người lao động  cải thiện lương hưu
Thêm chính sách giúp người lao động cải thiện lương hưu
Từ ngày 10.5, Nghị định số 85/2026/NĐ-CP chính thức có hiệu lực, quy định về bảo hiểm hưu trí bổ sung tự nguyện nhằm hình thành một kênh tích lũy dài hạn cho người lao động, bên cạnh chế độ BHXH hiện hành.
Từ cướp biển thành nông dân
Từ cướp biển thành nông dân
Trước xu thế thời cuộc, việc nghiêm túc thực thi pháp luật về sở hữu trí tuệ vẫn được đẩy mạnh, chấm dứt việc xài “chùa” và làm “cướp biển” của đông đảo dân mạng.
Điểm tựa tuổi già  nơi giáo xứ
Điểm tựa tuổi già nơi giáo xứ
Giáo xứ có thể làm gì để những năm tháng xế chiều của người cao tuổi trở nên ý nghĩa, và tràn đầy tiếng cười? Thông qua các góc nhìn từ mục vụ, y tế và tâm lý dưới đây, sẽ thấy rằng đôi khi chỉ cần một tủ sách...
Xóm nghề biến lục bình thành sinh kế
Xóm nghề biến lục bình thành sinh kế
Dọc theo những con kênh ở miền Tây Nam Bộ, lục bình từ lâu đã trở thành một phần rất đỗi quen thuộc. Từ loài thực vật trôi nổi ven sông, ít nhiều góp phần gây ô nhiễm do cản dòng chảy của nước, người dân đã khéo léo biến...
Vị trí Dinh Trấn Biên Phú Yên, nơi Anrê Phú Yên được rửa tội (p2)
Vị trí Dinh Trấn Biên Phú Yên, nơi Anrê Phú Yên được rửa tội (p2)
“Khúc sông bên lở, bên bồi” là quy luật của thiên nhiên. Dòng chảy sông Cái bị thiên nhiên bồi lấp tại bãi cát thôn Hội Tín, giáp ranh thôn Hội Phú, đoạn liền kề nghĩa trang giáo xứ Mằng Lăng ngày nay.
Bình an nơi tâm hồn
Bình an nơi tâm hồn
Có những lời thầm thì hóa thành bình an. Việc nhìn nhận những thiếu sót chính là khoảnh khắc lòng can đảm hiện diện rõ nét để bắt đầu hành trình hoàn thiện bản thân.
Tiếng xao động trên tàu dừa
Tiếng xao động trên tàu dừa
Có những chuyến đi không nhằm tìm kiếm điều gì cụ thể, chỉ đơn giản là để lòng mình được lắng lại. Tôi đến miền Tây trong những ngày cần một khoảng yên đủ rộng để nghe rõ hơn tiếng nói bên trong mình.
Chọn ở quê hay thành phố cho tuổi già an yên
Chọn ở quê hay thành phố cho tuổi già an yên
Câu hỏi “về già nên sống ở quê hay thành phố” tưởng chừng đơn giản nhưng lại là nỗi trăn trở của nhiều gia đình hôm nay. Khi tuổi trẻ gắn với những cuộc mưu sinh nơi đô thị, thì tuổi già người ta lại có xu hướng chọn sự...
Cơn mưa đầu mùa
Cơn mưa đầu mùa
Nắng quá, chịu hết xiết, ai cũng đợi mưa. Gặt xong, chị hàng xóm cứ “mơi mưa”, “mốt mưa” riết mà không thấy. Nước ngầm hụt tầng, mặt đất khô khốc, nghe mưa râm ran ngoài kia làm nôn nao, nhưng ở tận Nghệ An - Hà Tĩnh, coi các...