Công nghị Hội An năm 1672 có một vai trò quan trọng trong lịch sử truyền giáo tại giáo phận Tông tòa Đàng Trong. Đã có những nhà nghiên cứu nói lên tầm quan trọng của Công nghị. Bài viết này nhằm góp phần xác định vị trí cụ thể Công nghị được tổ chức nhóm họp, qua đó, đọc lại cung cách sống đạo theo chỉ dẫn của Tin Mừng.

I. NGUỒN SỬ LIỆU
1.“…Chúng tôi không vào thành phố, nhưng nghỉ lại trên một cù lao giữa sông, tại đó chỉ có một làng toàn tòng Kitô giáo. Chính tại đây mà chúng tôi tổ chức Công nghị đầu tiên ở Đàng Trong”. [1]
2. “…Ngay sau đó, các thừa sai lên một chiếc thuyền nhỏ và đến nhà cha Guiard, nơi cha đã dựng một túp lều tạm bợ trên một hòn đảo nhỏ gần Faifo (Hội An). Các thừa sai đã tá túc tại nhà này. Những ai tìm kiếm sự thoải mái vật chất sẽ lấy làm ngạc nhiên. Những bổn đạo cảm thương đến nỗi họ không kìm được nước mắt. Chính tại đó, Công nghị vì lợi ích của Giáo hội được tổ chức”. [2]
3. Trong chuyến kinh lý Đàng Trong lần I, vì lợi ích cho công việc truyền giáo và phần rỗi các tín hữu, vào ngày 19 tháng 01 năm 1672, Đức cha Lambert quyết định tổ chức Công nghị, gồm Thừa sai Claudio Guiard; Thừa sai Benigno Vachet, thư ký về tiếng Latinh; và cha Giuse Trang, linh mục bản xứ, thư ký về tiếng Bản xứ (An Nam). Công nghị được tổ chức tại làng Chiem-baong, gần bên thành phố Faifo (Hội An), để bàn bạc những gì đem lại lợi ích cho tất cả các Kitô hữu trong miền truyền giáo. Ngoài ra còn có một số Thầy giảng cũng triệu tập tham dự công nghị này.[3]
II. XÁC ĐỊNH VỊ TRÍ HỌP CÔNG NGHỊ
Theo 03 nguồn sử liệu trên, cuộc họp Công nghị được diễn ra trên một cù lao/ đảo nhỏ giữa sông, chứ không ở tại vùng đất liền trên phố cổ Hội An ngày nay. Riêng nguồn sử liệu số 3 cho biết vị trí đó là Chiem-baong. Văn bản này được cha Bénigne Vachet làm tại Ayutthaya, Vương quốc Xiêm La (Thái Lan), ngày 13.9.1672.
Cha Vachet viết văn bản này bằng tiếng Latinh. Lúc bấy giờ cách ký âm chữ Quốc ngữ của mỗi thừa sai chưa được thống nhất, mặc dù chữ Quốc ngữ đã được cha Đắc Lộ cho xuất bản Tự điển “Việt Bồ La” vào năm 1651. Cha Vachet là người Pháp. Cha viết bằng tiếng Latinh, cách ký âm Quốc ngữ của cha theo chữ Latinh. “Ch” trong tiếng Latinh mà ký âm Quốc ngữ ngày nay chúng ta vẫn dùng là “k”, chẳng hạn Joachim (tiếng Latinh) - tiếng Việt là Gioakim. Từ đó, chúng tôi luận rằng “Chiem-baong” đó là làng Kim Bồng.
III. LÀNG KIM BỒNG XƯA VÀ NAY
Tên gọi làng xã thường có sự thay đổi theo dòng thời gian. Tuy nhiên, mặc dù ít nhưng vẫn có những tên gọi làng xã vượt thời gian, chẳng hạn “La Vang” đã có từ trước thế kỷ XII, trên một bia ký của Chămpa, “Kim Bồng” ở Hội An đã có từ xa xưa…
Theo địa bạ triều Nguyễn, làng Kim Bồng ngày xưa là châu Kim Bồng, thuộc tổng Mỹ Khê, huyện Duy Xuyên. Trước ngày 01.7.2025, phần lớn địa bàn này thuộc thôn Trung Hà, xã Cẩm Kim, thành phố Hội An, nay thuộc phường Hội An, thành phố Đà Nẵng. Theo truyền khẩu của cư dân các tộc họ Nguyễn, Phan, Huỳnh, Trương ở xã Cẩm Kim thì cha ông họ là người gốc ở Thanh Nghệ, đã di dân lập nghiệp tại đây vào thế kỷ XVI.
Mô tả trong các tường thuật của các thừa sai, làng Kim Bồng, nơi tổ chức Công nghị là một làng nghèo giữa bốn bề sông nước bao quanh. Cha Guiard,[4] được cử đi tiền trạm, vào Đàng Trong, dọn đường cho chuyến viếng thăm Đàng Trong của Đức cha Lambert. Cha Guiard đã chọn vùng sông nước nghèo khổ, hẻo lánh này để làm nơi tá túc, đón vị cha chung của giáo phận đi thăm đoàn con cái. Sở dĩ có sự chọn lựa như thế vì sự dè dặt do ảnh hưởng của hai chỉ thị cấm đạo của Hiền vương Nguyễn Phúc Tần vào năm 1663 và 1665. Tường trình chuyến viếng thăm cho biết: “Các tín hữu từ ba xứ phía bên kia Hội An, sau khi được tin có vị cha chung, họ đã đổ xô đến từ mọi hướng - từ những nơi cách xa ba mươi, sáu mươi và chín mươi dặm - để nhận lãnh các bí tích…[5] vì số người quá đông và vì nguy cơ dòng người Kitô hữu liên tục đổ về sẽ thu hút sự chú ý, có thể dẫn đến sự bách hại mới”.[6]
Theo ca dao địa phương, Kim Bồng nguyên là một vùng cư dân nghèo khổ: “Kim Bồng tốt cải ngon dưa/ Gần sông rửa sạch khéo vừa chọn đôi/ Khế xanh nấu với ốc nhồi/ Tuy nước nó xám mà mùi nó thơm”; “Kim Bồng là Kim Bồng còi/ Rau lang mặn mại[7] mà coi như vàng/ Hội An bán gấm, bán điều/ Kim Bồng bán cải, Trà Nhiêu[8] bán hành”; “Phú Bông[9] dệt lụa, dệt sa[10]/ Kim Bồng thợ mộc, Ô Gia[11] thợ rừng”; “Cha em thợ mộc Kim Bồng/ Muốn em có chồng ở xứ Khánh Vân.[12]/ Ðưa tay hốt nắm dăm bào/ Hỏi thăm chú thợ bữa nào hồi công/ Không mai thì mốt hồi công/ Hội An em ở, Kim Bồng anh dời chân”.
Ngày nay, Kim Bồng là một làng mộc truyền thống có tiếng. Mộc Kim Bồng gồm mộc xây dựng, mộc mỹ nghệ, mộc gia dụng, mộc đóng ghe. Du khách đến Hội An thường ít khi bỏ qua tham quan làng mộc này.
IV. THAY LỜI KẾT
Làng Kim Bồng, một vị trí hẻo lánh, đường đến và đi khó khổ, nghèo hèn, lại được các thừa sai chọn làm nơi họp Công đồng, chứ không phải một nơi “bằng chị bằng em”. Nghĩ đến điều này, người viết không thể không nghĩ đến Đức Giêsu Kitô, một “chuyên gia lách luật”, những “luật lệ” thuần lý trí. “Tư tưởng của Ta không phải là tư tưởng của các ngươi” (Is 55,8-9).
Với mầu nhiệm Giáng Sinh: “Chúa Kitô giáng sinh trong hoàn cảnh sau đây…”; “Ai nấy phải về nguyên quán mà khai tên tuổi. Bởi đó ông Giuse từ thành Nadarét miền Galilê, lên thành Bê Lem miền Giuđa… Khi hai người đang ở đó, bà sinh con rồi đặt trong máng cỏ…”; “Hãy đem Hài Nhi và mẹ người trốn sang Ai Cập…”; “Hãy đem Hài Nhi và mẹ người về Ítraen… và đến ở tại Nadarét”.[13] Vậy đó, “lách luật” nên khi được Philipphê mách: “Đấng mà sách Luật Môsê và các ngôn sứ nói tới, chúng tôi đã gặp, đó là ông Giêsu, con ông Giuse người Nadarét”, Nathanaen, một trí thức của Ítraen, mới nói: “Từ Nadarét nào có cái chi hay?” (Ga 1,46). Nathanaen có lý vì theo các ngôn sứ, đặc biệt ngôn sứ Mika cho biết “hỡi Bêlem…, chính nơi ngươi sẽ xuất hiện Đấng thống lĩnh sơn hà Ítraen” (Mk 5,1), chứ đâu phải Nadarét.
Với mầu nhiệm tử nạn: Trong buổi đọc kinh Truyền Tin ngày 28.8.2011, Đức Bênêdictô XVI đã huấn dụ: “Tất cả xem ra bị đảo lộn trong con tim của các môn đệ. Làm sao mà “Đức Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống” lại có thể bị đau khổ cho tới chết được? Tông đồ Phêrô nổi loạn, không chấp nhận con đường ấy, nên mới lên tiếng nói với Thầy rằng: “Xin Thiên Chúa đừng để Thầy gặp chuyện ấy”. Có sự khác biệt hiển nhiên giữa chương trình tình yêu của Thiên Chúa Cha - Đấng thậm chí ban chính Con Một trên thập giá để cứu chuộc nhân loại - và các chờ mong, ước muốn, và dự án của các môn đệ. Và sự đối chọi ấy ngày nay cũng lặp lại nữa: khi việc thực hiện cuộc đời mình chỉ hướng tới chỗ thành công xã hội, sự giàu sang vật lý và kinh tế, thì nó không lý luận theo Thiên Chúa nữa, mà là theo con người”.[14]
Với mầu nhiệm Phục Sinh: Vừa sau khi sống lại, Đức Kitô không hiện ra như một “chúa sơn lâm” với những người hò hét inh ỏi “đóng đinh nó vào thập giá” và những người đóng đinh mình. Đức Kitô hiện ra, an ủi những người chỉ biết yêu mà không biết sợ: Những phụ nữ đứng dưới chân thập giá; Những người biết mình yếu chứ không phải mạnh: các tông đồ, đặc biệt là Phêrô. Phong cách ấy, năng lực ấy, sức sống ấy của mầu nhiệm Nhập Thể, Tử Nạn và Phục Sinh vẫn luôn là phong cách, là sức sống, là năng lực siêu bền và hiệu quả của công cuộc loan báo Tin Mừng trong suốt dòng lịch sử.
1 LAUNAY, Histoire de la Cochinchine, Vol.I, Paris 2000, trang 106
2 AMEP, vol. 876, trang 715-730
3 LAUNAY, Sđd., trang 109
4 Khi đến miền truyền giáo, cha Guiard làm quản lý nhà ở Thái Lan. Năm 1671, cha vào Đàng Trong với tư cách một thầy thuốc. Cha được bổ nhiệm làm Bề trên miền truyền giáo Đàng Trong và Chămpa. Cha qua đời tại Bàu Nghè (An Ngãi) vào ngày 24.5.1673.
5 Các xứ đạo Hội An, Đà Nẵng và Bàu Nghè
6 AMEP, vol. 876, trang 715-730
7 Một loài cá nhỏ ở những bãi bồi ven sông. Cá mại kho mặn là thức ăn của các gia đình nghèo. Ngày nay trở thành đặc sản, hàng hiếm.
8 Một làng ở thôn Trà Đông, xã Duy Vinh, huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam. Đây là nơi có vị trí thông thương thuận lợi, nơi giao nhau của 3 con sông: Ly Ly, Thu Bồn và Trường Giang cùng đổ ra cửa biển Đại Chiêm.
9 Một làng thuộc xã Điện Phong, huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam cũ.
10 Một loại vải được dệt bằng tơ tằm, nhẹ, mỏng và thoáng.
11 Làng Ô Gia thuộc thôn Phú Phước, xã Đại Minh, huyện Đại Lộc. Vị trí bên bờ nam sông Vu Gia, bắc sông Thu Bồn, thuộc vùng đầu nguồn của hai sông này.
12 Tên một làng nổi tiếng với nghề thợ hồ, thuộc xã Đại Cường, huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam cũ.
13 Tổng hợp từ Tin mừng Mathêô và Luca.
14 https://hdgmvietnam.com/chi-tiet/chua-nhat-22-thuong-nien-nam-a-28-08-2011-suy-nghi-theo-y-chua-la-chap-nhan-thap-gia-52533
Bình luận