Mặt

(CN III Phục Sinh - năm A - Lc 24,13-35)

“Họ dừng lại, vẻ mặt buồn rầu” (Lc 13.17)

Xem mặt mà bắt hình dong. Những đặc tính của khuôn mặt được nhận diện có tính cá vị. Khuôn mặt cho thấy tính tình và thái độ. Việc tỏ mặt hay hướng mặt về một người hay một vật nào đó cho thấy sự kính trọng, ưng thuận hay cương quyết. Ngược lại, giấu mặt hay quay mặt đi cho thấy sự chống đối.

09042019.jpg (172 KB)

Khuôn mặt cho thấy đặc tính của một người:

- Những ví dụ bị nhận mặt: Ông Phêrô bị người đầy tớ gái vị thượng tế nhận diện (Mt 26.69-71 //Mc 14,66-72 // Lc 22,55-62 // Ga 18,15-18). Mặt bà Esther quyến rũ (Et 5,2) và mặt ông Haman phấn khởi (Et 5,9). Chúa Giêsu được nhận diện “là con bác thợ” (Mt 13,55 // Mc 6,3). Người ta nhận ra và tuôn đến với Ngài (Mt 14,35 // Mc 6,54). Ông Gioan nhận ra và giới thiệu Chúa Giêsu “Đây là Chiên Thiên Chúa” (Ga 1,38.47-48).

- Những ví dụ cho thấy người ta không nhận diện được: Anh em không nhận ra ông Giuse (St 42,8), hay ông Giuđa không nhận ra con dâu Tama (St 38,15). Chúa Giêsu Phục Sinh đã không được các tông đồ và môn đệ nhận diện khi Ngài hiện ra (Lc 24,16; Ga 20,14).

- Khuôn mặt có thể được dùng làm cách biểu trưng cho cả con người (Đnl 7,10).

Những bộ diện thể lý:

- Có những khuôn mặt hấp dẫn (Dc 1,15-16; 1Sm 16,12; Gv 8,1; Đn 1,4).

- Có những khuôn mặt bị biến dạng (Is 52,14; G 2,12; Mt 27,29-30 // Mc 14,65 // Lc 22,63; Ga 18,22).

Những biểu tỏ trên mặt:

- Khuôn mặt diễn tả tính khí con người: Cain (St 4,5), bà Sara (St 21,6), bà Anna (1Sm 1,18), ông Giob (G 29,24 x. bản dịch TOB), vua Banxatsa (Đn 5,6.9), hai môn đệ về Emmaus (Lc 24,17), bà Maria Magdala (Ga 20,15).

- Quay mặt đi có thể nhằm diễn tả sự tôn thờ, kính trọng, khiêm tốn hay mắc cỡ (St 4,5; 24,65; R 2,10; 1Sm 5,3-4; 1V 18,42; 1Sb 21,21; G 11,15; Tv 83,16; Is 6,2; Gr 13,26; Lc 5,12).

- Nghiêm mặt diễn tả sự cương quyết (Lc 9,51: Chúa Giêsu quyết lên Giêrusalem).

Những bộ tịch khác trên mặt:

- Ẩn mặt không nhìn ai là dấu mất ân nghĩa (Đnl 31,17-18; G 13,24).

- Giương mặt lên là dấu không biết mắc cỡ (G 11,15).

- Vả mặt ai là dấu thách thức hay sỉ nhục (1V 22,24; Ga 18,22).

- Nhổ vào mặt ai là dấu sỉ nhục (Đnl 25,9; Mt 26,67).

Nhìn mặt ai:

- Một dấu chỉ chấp nhận (St 33,10; 43,3-4; 44,23-26; Đnl 34,10).

- Chứng tỏ sự đối đầu (Gl 2,11; 2Sm 14,24-32; 2V 14,8).

- Không nhìn mặt ai cho thấy sự khước từ (Xh 10,28).

Những khuôn mặt rạng rỡ siêu nhiên: của Chúa Giêsu (Mt 17,2// Mc 9,23 // Lc 9,2-3), của ông Môsê (Xh 34,30), của Chúa Phục Sinh (Mt 28,3 // Mc 16,5 // Lc 24,4), của Stêphanô (Cv 6,15), của các tín hữu (2Cr 3,7-8.18), của “Con Người” (Kh 1,14.16).

Khuôn mặt của Thiên Chúa:

- Biểu trưng cho việc ban phúc (Ds 6,25-26; 2Sm 21,1; 1Sb 16,11; Tv 4,6; 31,16; 67,1; 80,19; 105,4; 119,135; Ed 39,29).

- Tìm nhan Chúa là tìm ý Người (2Sb 7,14; Tv 2,7-8; Hs 5,15).

- Bị Chúa ẩn mặt quay mặt, nghiêm mặt là dấu bị thất sủng (Đnl 31,17; Lv 17,10; 2Sb 30,9; Tv 44,24; Is 1,15; 59,2; 64,7; Ed 14,8; 39,23; 1Pr 3,12; Tv 34,15-16).

- Thường thì dân không thể nhìn thấy nhan Chúa (Xh 33,20; St 32,30; Đnl 34,10; G 13,15; 19,26-27; 1Cr 13,12). Thời sau hết mọi người sẽ diện kiến Thiên Chúa (Kh 22,4).

“Mặt đất” là từ ngữ chỉ tất cả những gì trên địa cầu (St 6,7 7,4; Đnl 6,15; 14,2; Tv 104,30; Xp 1,2-3; Lc 21,35).

Lm PHAOLÔ PHẠM QUỐC TÚY - GP PHÚ CƯỜNG

Từ khoá:
Chia sẻ:

Bình luận

có thể bạn quan tâm

Người Do Thái
Người Do Thái
Đây là tên để chỉ các miêu duệ dân nước Giuđa sau thời lưu đày và cả những người theo đạo của họ, dù họ thuộc các dân tộc khác. Danh xưng này được sử dụng rộng rãi trong Tân Ước với những điểm nhấn khác nhau.
Chúa Giêsu Kitô và thần tính của Người
Chúa Giêsu Kitô và thần tính của Người
Sự ngang hàng và tương đồng của Đức Giêsu Kitô như là Thiên Chúa được bày tỏ rõ rệt trong Tân Ước và cũng được tàng ẩn trong các lời nói, việc làm của Chúa Giêsu Kitô.
Chúa Thánh Thần hoạt động trong thế gian
Chúa Thánh Thần hoạt động trong thế gian
“Thần Khí sự thật... thế gian không thấy và cũng chẳng biết Người” (Ga 14,17)
Người Do Thái
Người Do Thái
Đây là tên để chỉ các miêu duệ dân nước Giuđa sau thời lưu đày và cả những người theo đạo của họ, dù họ thuộc các dân tộc khác. Danh xưng này được sử dụng rộng rãi trong Tân Ước với những điểm nhấn khác nhau.
Chúa Giêsu Kitô và thần tính của Người
Chúa Giêsu Kitô và thần tính của Người
Sự ngang hàng và tương đồng của Đức Giêsu Kitô như là Thiên Chúa được bày tỏ rõ rệt trong Tân Ước và cũng được tàng ẩn trong các lời nói, việc làm của Chúa Giêsu Kitô.
Chúa Thánh Thần hoạt động trong thế gian
Chúa Thánh Thần hoạt động trong thế gian
“Thần Khí sự thật... thế gian không thấy và cũng chẳng biết Người” (Ga 14,17)
Thành thánh
Thành thánh
Thành Thánh, theo Thánh Kinh, là danh hiệu của thành Jerusalem, trung tâm tôn giáo và chính trị của dân Do Thái.
Cửa chuồng chiên
Cửa chuồng chiên
Cửa mở để qua lại, ra vào: cửa diễn tả sự đón tiếp (G 31,32; 1Cr 16,19), cửa cũng ngăn cản để bảo vệ (Ga 20,19) hoặc từ chối (Mt 25,10).
Mặt
Mặt
Xem mặt mà bắt hình dong. Những đặc tính của khuôn mặt được nhận diện có tính cá vị. Khuôn mặt cho thấy tính tình và thái độ. Việc tỏ mặt hay hướng mặt về một người hay một vật nào đó cho thấy sự kính trọng, ưng thuận hay...
Hơi thở
Hơi thở
Hình ảnh hơi thở thường được dùng để truyền đạt yếu tính và quyền lực thiêng liêng, không nhìn thấy được mà chỉ thấy hiệu quả, bao gồm cả cá vị và hành động của Chúa Thánh Thần.
Chạy
Chạy
Thánh Kinh đưa ra hình ảnh “chạy” với cả hai nghĩa đen và biểu tượng. Hình ảnh đời sống Kitô hữu như là một cuộc chạy thật ấn tượng.
Đức Giêsu Kitô là Chúa
Đức Giêsu Kitô là Chúa
Chúa, danh hiệu ghi nhận uy thế lời Chúa Giêsu Kitô giảng dạy: “Dựa vào lời của Chúa, chúng tôi nói với anh em” (1Tx 4,15; Cv 11,16; 20,35; 1Cr 7,10).