Kinh Lạy Cha vẫn được đọc hằng ngày trong phụng vụ, trong đời sống đạo đức bình dân, tuy nhiên có câu kinh khó hiểu.
I. ĐẶT VẤN ĐỀ
Lời kinh “Xin chớ để chúng con sa chước cám dỗ, nhưng cứu chúng con khỏi mọi sự dữ”. Chữ “nhưng” ở đây thật khó hiểu. Việc “cứu chúng con khỏi mọi sự dữ” có phải là mục đích của lời “Xin chớ để chúng con sa chước cám dỗ” không?



II. THEO DÒNG LỊCH SỬ
- TỪ THỜI CHA ĐẮC LỘ CHO ĐẾN CANH TÂN PHỤNG VỤ THEO CÔNG ĐỒNG VATICAN II
Đây là kinh được các Giám mục thống nhất dùng trong toàn cõi Giáo hội tại Việt Nam theo cuộc họp chung năm 1924: [1]

- Ngày 01.02.1968, chuẩn y bản dịch tiếng Việt Lễ Quy Rôma.[2]
- Ngày 22.4.1971, Tòa Thánh chuẩn y bản dịch tiếng Việt Sách Lễ Rôma theo ấn mẫu Latinh thứ nhất, được tu chính sau Công đồng Vaticanô II.[3]

Như vậy từ năm 1971, chữ “nhưng” được thay cho chữ “bèn” trong kinh Lạy Cha. Bản kinh này được dùng cho đến ngày nay, chỉ thay chữ “con” thế cho chữ “tôi” theo thông cáo của Ủy ban Giám mục về Phụng vụ, vào ngày 25.09.1974, mục số 3, khoản b.[4]
2. “BÈN” VÀ “NHƯNG” TRONG CÁC BẢN DỊCH NÊU TRÊN CHỮ “BÈN” CÓ Ý NGHĨA GÌ ?
a- Từ điển Việt-Bồ-La của Đắc Lộ:

|
VIỆT |
BỒ |
LA |
|
bèn |
mas, porem |
sed |
|
bèn chữa chúng tôi |
mas livra nos |
sed libera nos |
b- Đại Từ điển tiếng Việt của Bộ Giáo dục và Đào tạo:

c- TS. Lê Đông - PGS. TS. Nguyễn Văn Chính
(Khoa Ngôn ngữ học, Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia, Hà Nội, ngày 01.08.2015)[5]
Sau khi đã phân tích, miêu tả các cách dùng của từ bèn trong một phân đoạn lịch sử cụ thể. Hai vị giáo sư ngôn ngữ đã đi đến nhận định:
1- Bèn trước hết có thể được dùng với nghĩa thời gian: Sự tình được nói tới diễn ra liền ngay sau mốc không có sự gián cách kéo dài như có thể nghĩ, có thể chờ đợi. Với ý nghĩa đó, bèn tương đương với “lập tức, tức thì, ngay, liền” trong tiếng Việt hiện đại…
2- Từ sự kế tiếp trực tiếp, tức thì về mặt thời gian của một sự tình so với mốc chuyển sang những cách dùng mà tính tức thì bị mất đi chỉ còn lại là sự nối tiếp, tiếp theo sau sự việc đã nói, đã kể trong thời gian. Thậm chí, bèn có thể được mở rộng ra thành sự kế tiếp của những nội dung được trình bày, tức là trình tự sắp xếp, trình tự liệt kê các sự kiện mà người nói lựa chọn theo một góc nhìn nào đó, một thứ trình tự siêu ngôn ngữ….
3- Sự nối tiếp, kế tiếp trong thời gian, như một quy luật phổ biến, có thể đi kèm với những sắc thái nhân quả, hệ quả đủ loại làm cơ sở cho sự hình thành ý nghĩa mới gắn với sắc thái nhân quả, hệ quả đó….
3a. Trường hợp thứ nhất, cũng là cách dùng duy nhất của bèn vẫn còn được tiếp tục lưu giữ cho đến tận ngày nay trong khi các cách dùng khác đã rơi rụng mất (cũng xin nói thêm rằng không nên coi đây là cách dùng chỉ đơn thuần mang “tính tu từ”, một cách định tính đã có từ lâu thường với hàm ý yếu tố ngôn ngữ được xét không có một giá trị ngữ nghĩa chức năng đích thực nào ngoài cái giá trị tu sức, đưa đẩy được thêm vào cho sinh động lời nói thuộc một phong cách chức năng). Ở trường hợp này bèn chỉ ra rằng hành động ứng xử được thực hiện là một hành động phản ứng có chủ đích, có lựa chọn mang tính hệ quả của chủ thể đứng trước một tình huống, hoàn cảnh nào đó của đời sống, có sự thúc đẩy của những nhân tố thuộc nhận thức ở chủ thể….
3b. Trường hợp thứ hai, sự tình được dẫn nhập bằng bèn cũng được nhìn như là kết quả, kết cục của một hay những sự tình nào đó đã nói trước. Song, đó không phải là hành động có lựa chọn có ý đồ nhắm trước của chủ thể trước tình huống của đời sống….
4- Cách dùng thứ tư của bèn gắn với sự đánh giá của người nói về tính bất thường, trái ngược bỏ qua những tiền đề điều kiện hay logic vận động bình thường đáng phải có, đáng phải theo của sự việc….
5- Tính liền ngay, trực tiếp không có gián cách về thời gian so với mốc và sắc thái nhân quả có thể có trong dòng phát triển kế tiếp của các sự kiện có một kiểu liên hệ bên trong dễ thấy với một kiểu ý nghĩa khác nữa của bèn... Trong cách dùng này, bèn tương đương với những lối nói kiểu ‘hóa ra; thì ra’ trong tiếng Việt hiện đại….
d- Bèn:[6]
Nghĩa: (Làm việc gì) liền ngay sau một việc nào đó, nhằm đáp ứng một yêu cầu, chủ quan hay khách quan: Thấy mưa to, em bèn chạy vào hiên trú./ Cô giáo gọi tên, Minh bèn giơ tay trả lời.
III. NHẬN ĐỊNH
Các bản dịch kinh Lạy Cha cho dân Chúa ở Việt Nam từ thời cha Đắc Lộ cho đến cuộc cải cách phụng vụ của Công đồng Vatican II, cụ thể năm 1971, chữ “bèn” được dùng trong kinh Lạy Cha “Xin chớ để chúng con sa chước cám dỗ, bèn chữa chúng con…”. Từ năm 1971 đến nay dùng chữ “nhưng” thay cho chữ “bèn”.
Theo thiển ý của chúng tôi, chữ “bèn” như những trích dẫn ở trên đã được dùng từ lúc chữ Quốc ngữ còn sơ khai cho đến chữ Quốc ngữ được hoàn thiện như hiện nay. Ý nghĩa chữ “bèn” ngày nay vẫn được dùng trong văn học cũng như trong đời sống dân gian. Đối với kinh Lạy Cha, chữ “bèn” đã làm cho lời kinh được rõ nghĩa. Chữ “nhưng” làm tối nghĩa lời kinh, thậm chí theo mạch văn, không hiểu được lời kinh.
1 Sách Mục Lục (Sách Kinh nguyện), Imprimerie de la Mission Quinhon, 1925, trang 15.
2 Sắc lệnh số @ Prot. A. 54/68, x. Notitiae 4 (1968) 92. @ là ký hiệu để chỉ các bản dịch tiếng Việt của các sách phụng vụ trước Công đồng Vaticanô II. Tòa Thánh chuẩn y cho phép dùng tạm cho tới khi các sách phụng vụ được tu chính theo các chỉ thị của Công đồng Vaticanô II và được dịch sang tiếng địa phương.
3 Sắc lệnh số Prot. 953/71, x. Notitiae 7 (1971) 257.
4 GM. GIUSE PHẠM VĂN THIÊN, Thông cáo số 06/74 của Ủy ban Giám mục về Phụng vụ, Phụng Vụ số 24 (1974).
5 Xem “Bèn - Dụng học với miêu tả đồng đại lịch sử: Từ “Bèn” trong tiếng Việt từ thế kỷ XV đến thế kỷ XVII” tại: http://khoavanhoc-ngonngu.edu.vn/en/nghien-cuu/ngon-ngu-hoc/5517-fcdrfv.html
6 http://tratu.soha.vn/dict/vn_vn/B%C3%A8n
Lm Gioan VÕ ĐÌNH ĐỆ
Bình luận