Góp nhặt những câu chuyện lịch sử
VỊ TRÍ DINH TRẤN BIÊN PHÚ YÊN, NƠI ANRÊ PHÚ YÊN ĐƯỢC RỬA TỘI
Khảo sát thực địa
“Khúc sông bên lở, bên bồi” là quy luật của thiên nhiên. Dòng chảy sông Cái bị thiên nhiên bồi lấp tại bãi cát thôn Hội Tín, giáp ranh thôn Hội Phú, đoạn liền kề nghĩa trang giáo xứ Mằng Lăng ngày nay. Do đó, dòng chảy theo sông Đầm dần dần bị tắt. Đoạn chảy xuống bến Bình Bá, như Đại Nam Nhất Thống Chí mô tả, được mở rộng dần thành nguồn sông chính như hiện nay. Đoạn chảy xuống bến Bình Bá được cư dân gọi là sông Sau, “Sông Sau có miếu thờ vua chín tầng” như ca dao trong vùng, đó là miếu thờ vua Lê Thánh Tôn[1]. Ngày nay, Thành Cũ đã bị dòng nước sông Sau nhận chìm.

“Rộng đồng mặc sức chim bay/ Biển hồ lai láng mặc tình cá đua/ Cá đua sông trước thì đua/ Sông Sau có miếu thờ vua chín tầng”, câu ca dao được truyền tụng trong cư dân vùng Hội Phú cho biết thực địa một thời của vùng đất. Sông Trước tức là sông Đầm (sông Sơn Chà - xem thêm bản đồ đính kèm), là dòng sông chính từ thời lập Dinh Trấn Biên. Trên bản đồ của các linh mục Dòng Tên xuất bản tại Paris năm 1650, Dinh Trấn Biên (Dinh Phoan) được định vị ở phía bắc sông. Đây chính là sông Trước - sông Đầm. Vùng đất lúc lập Dinh Trấn Biên Phú Yên, chỉ có một dòng sông này. Sông chảy đến phía Tây dãy núi Động Giả làng Phú Hội (thôn 5), [2] nay thuộc thôn Phú Hội, An Ninh Đông, rồi đổ ra cửa Tiên Châu, vịnh Xuân Đài (Bà Đài). Sau năm 1981, sông Đầm thuộc địa giới Hợp tác xã Nông nghiệp An Ninh Tây, đã bị lấp để tăng diện tích ruộng cho Hợp tác xã. Riêng đoạn từ chân núi Sơn Chà đến sau nhà thờ Mằng Lăng hiện vẫn còn[3], và đường ĐH31 hiện nay từ núi Sơn Chà đi đến đầu thôn Phú Hội, An Ninh Đông, nhiều đoạn đi ven theo sông Đầm xưa. Những năm 90 của thế kỷ XX, phía Bắc đường ĐH31, phía cánh đồng nơi đầu thôn Phú Hội, mùa hạ vẫn còn nước mặn chảy vào từ cửa Tiên Châu.
Mặc dù các sử liệu cho biết Dinh Trấn Biên Phú Yên ở vùng này, nhưng vị trí chính xác vẫn chưa được xác định cụ thể. Sau lễ tuyên Chân phước Anrê Phú Yên đúng một tuần, Chúa nhật 12.3.2005, như một cuộc hành hương về nơi vị Chân phước lãnh nhận Bí tích Rửa tội, giáo lý viên Mằng Lăng tổ chức sinh hoạt tại một bãi cát trên sông ở khu vực thôn Hội Phú, xã An Ninh Tây.
Một buổi sáng sớm còn thắp đèn để đọc kinh,[4] anh Phêrô Nguyễn Thành Pháp, một giáo lý viên, chạy đến báo tin: “Thầy ơi có tin vui. Con đang ngủ, anh Trí nhà ở bờ đê Hội Phú, đi chợ bán cá, xe anh bị thủng lớp, gọi con dậy vá xe. Trong khi vá xe, anh hỏi con “hôm bữa trước mấy ông làm gì ở bãi cát, hát hò dui dữ dậy?”, con giải thích cho anh về Chân phước Anrê Phú Yên, về ý nghĩa cuộc sinh hoạt hôm ấy. Anh kể khi đi đánh lưới, nhiều lần lưới bị dính vào đá, phải lặn xuống mới gỡ được. Anh không biết làm sao mà cả vùng đó lưới bị mắc hoài. Anh nói nếu muốn chiều ảnh dẫn đi”. Nhận được tin, lòng nôn nao cho tới đầu giờ chiều, dù trời còn đang nắng gắt.

Hai thầy trò chúng tôi đến nhà anh Trí, anh lấy sõng chở đến khu vực mà anh giới thiệu, bơi sõng qua lại khu vực, anh dùng sào chống sõng, đâm xuống đáy sông dò tìm một hồi lâu cho tới lúc sào đụng đá liên tục. Đây rồi. Thầy trò lặn xuống, chỗ sâu khoảng hơn 2m, sờ vào bờ đá, cảm thấy như đụng vào bàn tay của tiên tổ thời khẩn hoang lập làng, như nếm được mồ hôi của các nhà truyền giáo và đức tin son sắt của các giáo hữu thuở ban đầu ở Phú Yên, đặc biệt của Chân phước Anrê. Sau bước khởi động này, thầy trò chúng tôi thường dẫn nhau đi lặn, mò tìm mảnh sành, mảnh gốm. Hiện nay tại phòng truyền thống Chân phước Anrê tại Mằng Lăng còn trưng bày một khối gồm đá, gạch kết lại với nhau bằng vữa, được “khai quật” từ những cuộc khảo sát thực địa của hai “chuyên viên khảo cổ không chuyên”. Ngoài khối đá gạch đó, chúng tôi còn cạy được một viên gạch 10cm x 20cm x 40cm trên một khoảng bờ thành chìm dưới nước. Viên gạch này đã được tặng Đức Giám mục Micae Hoàng Đức Oanh, nguyên Giám mục Kontum, nhân một chuyến ngài thăm quê hương Anrê Phú Yên.
Năm 2005, cơ quan chức năng ở Phú Yên có tổ chức cuộc khảo sát tại Thành Cũ. Căn cứ vào một ít gạch đá trên bờ cát do những người nuôi tôm lấy lên khi đào hồ, đoàn dùng máy định vị của Sở khoa học và Công nghệ Phú Yên để xác định tọa độ: Y 130.35’78’’ và X 1090.23’35’’5. Vị trí tọa độ này, nay thuộc thôn Bình Thạnh, xã An Ninh Tây, huyện Tuy An.

Thay lời kết
Dinh Trấn Biên do chúa Sãi Nguyễn Phúc Nguyên lập năm 1629 để trấn giữ biên cương Đàng Trong, được các sử liệu xác định tại một vùng đất ở Phú Yên. Trải qua thời gian gần 400 năm, tên gọi và duyên cách địa lý của vùng đất ấy có sự thay đổi theo từng thời điểm: Hội An, Hội Phú, Sa Đôi, Bình Thạnh là những địa danh được cho là nơi Dinh Trấn Biên được xây dựng. Địa danh và địa giới vùng đất có thay đổi theo thời gian, nhưng vị trí mà gạch đá được bàn tay người thợ xây sắp xếp, tô trát làm nên cơ sở của Dinh Trấn không thay đổi. Theo đó, nơi Chân phước Anrê Phú Yên lãnh nhận Bí tích Rửa tội cũng không thay đổi.
1 Miếu tại xóm Đùi, thôn Long Uyên, xã An Dân, huyện Tuy An. Bên cạnh có Miếu Hội Đồng thờ Tiền hiền, Hậu hiền Thành hoàng và Văn miếu thờ Khổng Tử. Trước năm 1945, hàng năm tổ chức cúng tế Xuân Thu nhị kỳ (Cúng vào mùa Xuân, Tế vào mùa Thu. Cúng để Nhớ ơn.. Tế để cầu an cầu phước). Ngày 16.01.2024, Miếu thờ vua Lê Thánh Tôn, Miếu Hội Đồng và Văn Miếu được UBND tỉnh Phú Yên xếp hạng Di tích Lịch sử Văn hóa cấp tỉnh.
2 Từ năm 1949 cho đến nay, trong dân gian các thôn thuộc xã An Ninh còn được gọi từ thôn 1 đến thôn 8: Hội Phú - Thôn 1; Tiên Châu - Thôn 2; Diêm Điền - Thôn 3; Xuân Phu - Thôn 4; Phú Hội - Thôn 5; Phú Hạnh - Thôn 6; Phú Lương (Phú Ốc) - thôn 7; Phú Sơn - Thôn 8. Nay thôn 1,2,3,4 và Bình Thạnh thuộc xã An Ninh Tây; thôn 5,6,7,8 thuộc xã An Ninh Đông.
3 Khúc sông này được gọi là sông Hội Phú, hiện còn những nơi rất sâu, cư dân gọi là vực.
4 Người viết bài này lúc bấy giờ chưa thụ phong linh mục, đang ở Mằng Lăng.
Lm Gioan VÕ ĐÌNH ĐỆ
Bình luận