Từ thuở bé, tôi đã quá quen thuộc với cây lứt - loài thực vật dại mọc bao phủ khắp vùng phù sa mặn, từ ven kênh rạch, bờ vuông tôm cho đến những lối mòn hoang dại. Trong mắt tôi ngày ấy, lứt chẳng có gì đẹp: dáng nhỏ nhắn, hoa tầm thường, lại thêm đám sâu lứt gây ngứa ngáy “thấu trời”. Giá trị duy nhất theo dân gian có lẽ là những thân lứt già được chặt khúc, phơi khô để ngâm rượu trị đau lưng. So với những loài cây như chầm gọng, cóc kèn hay ô rô, cây lứt tồn tại một cách vô thưởng vô phạt. Ở các bờ vuông tôm, lứt phát triển gây lo ngại cho chủ vuông, phải mướn người dọn, thân lứt phơi khô làm củi. Ở nơi không đồi, suối, dốc, chẳng thông reo hay sim tím rịm đón hoàng hôn, lứt cùng nhiều thực vật hoang dại nước mặn thật là hẩm hiu.

Thế nhưng, cái nhìn của tôi đã hoàn toàn thay đổi vào một buổi chiều Xuân. Đạp xe trên con lộ giữa bạt ngàn hoa lứt đang mùa rộ nở, tôi tình cờ gặp một anh nông dân đang đi tìm mật ong ruồi. Khác với vẻ “nai nịt” phòng hộ cẩn thận của thợ săn ong rừng thường thấy, anh đi lại giữa rừng lứt một cách nhẹ thênh. Anh chia sẻ, ong ruồi vốn thích làm tổ trong bụi lứt. Vào mùa hoa, mật của chúng có giá đắt, hơn một triệu đồng mỗi lít - gấp đôi mật ong mật thông thường.
Tôi chợt giật mình. Hóa ra cái loài cây dại mình từng xem thường lại là “nhà” của một sản vật quý giá đến thế. Anh nông dân vừa tìm vừa kể: “Hên thì ngày được một lít, không thì phải đi ròng rã nhiều ngày. Mật ong ruồi trong tự nhiên có vị thanh nhẹ, tính vị đông y cao nên trị ho rất tốt, có bao nhiêu mối cũng lấy hết chứ không dư”.
Ong ruồi hiền lành, chỉ cần một làn khói thuốc lá thổi nhẹ là chúng bay đi. Tổ ong ruồi nhỏ, không nhiều tầng, không to như tổ của loài ong khác, nằm kín kẽ trong thảm lứt hay những góc khuất. Khi thấy tổ, anh chỉ cắt một phần sáp vắt mật, phần còn lại giữ nguyên cho ong quay về tái tạo. Sự “không tận thu, tận diệt” ấy giúp người thợ có thể quay lại lấy mật sau một tuần, giữ cho sự sống của đàn ong được tiếp nối.
Nhờ giá trị kinh tế cao, mùa hoa lứt nở cũng là mùa rộn ràng của những người thợ săn mật khắp vùng đồng bằng. Anh nông dân lại tiếp tục hành trình trên chiếc xe máy, mang theo chiếc thùng nhựa, len lỏi qua nhiều cây số để tìm “mật quý” giữa những bụi cây hoang dại.
Nhìn theo bóng anh khuất dần sau thảm lứt lúp xúp, tôi đứng tần ngần ngắm kỹ loài cây mà mình từng coi là tầm thường. Những bông hoa sắc tím nhạt phất phơ trong gió giờ đây bỗng trở nên duyên dáng lạ kỳ. Cây lứt dẫn dụ ong về, còn ong lại chắt chiu mật ngọt cho đời. Trong khoảnh khắc ấy, tôi nhận ra giá trị của một loài cây không nằm ở vẻ ngoài rực rỡ, mà ở cách âm thầm cho đời vị thơm ngọt quý giá.
Kim Cương
Bình luận