Dọc theo những con kênh ở miền Tây Nam Bộ, lục bình từ lâu đã trở thành một phần rất đỗi quen thuộc. Từ loài thực vật trôi nổi ven sông, ít nhiều góp phần gây ô nhiễm do cản dòng chảy của nước, người dân đã khéo léo biến loại cây dân dã này thành những sản phẩm thủ công mỹ nghệ mang lại nguồn thu nhập, nuôi sống nhiều gia đình suốt hàng chục năm qua.
“Ngày xưa thấy nó là ngán lắm, bởi nó ‘nhóc hết trơn’ (mọc dày đặc - NV). Tưởng chỉ vớt bỏ lên bờ đặng cho mục để trồng bầu, bí hay cho gia súc gia cầm ăn thôi, đâu nghĩ có ngày người ta đi vớt bán”, ông Đào Văn Tiên kể khi đang tranh thủ phơi những bó lục bình mới cắt trên sân nhà lúc trời vừa bắt đầu nắng. Theo ông, loại cây này mọc tự nhiên rất nhanh, chỉ cần nước lên, gặp nắng tốt là lớn ào ào.
Công đoạn sơ chế lục bình làm nguyên liệu cũng lắm công phu. Lục bình được chọn phải có thân dày. Sau khi cắt bỏ rễ và lá, người ta bó thành từng ôm lớn rồi chở về bãi phơi. Khắp các nẻo đường làng, đâu đâu cũng thấy sắc xanh của lục bình, trải dài từ sân nhà ra đến tận mé lộ. Mười ký thân tươi sau khi phơi khô chỉ còn chừng hơn một ký. Mùa nắng là thời điểm làm được nhiều nhất. Nắng lớn, lục bình khô nhanh, thân lên màu trắng đều, đẹp. Ngược lại, chỉ cần một cơn mưa bất chợt cũng có thể làm cả mẻ nguyên liệu chuyển sang màu đen, bán mất giá.
Nghề đương lục bình từ lâu đã trở thành một nghề thủ công quen thuộc của người dân miền Tây Nam Bộ, trong đó có nhiều địa phương ở Cần Thơ. Tại xã Vĩnh Thuận Đông thành phố Cần Thơ, chỉ riêng ba ấp 2 - 3 - 4 đã có gần trăm hộ sống bằng nghề này. Chưa kể hàng chục hộ khác ngày ngày chèo ghe đi cắt lục bình, chở về phơi khô bán cho các cơ sở thu mua. Tính ra có đến ngót nghét vài trăm hộ gắn bó với loài cây thủy sinh tưởng là vô dụng. Xuất hiện từ những năm 1980, nghề đương lục bình ban đầu chỉ là sự học hỏi giữa các hộ dân, nhưng nhờ hiệu quả “đồng ra đồng vô”, đã nhanh chóng lan rộng, trở thành cái nghề của cả một vùng quê.
Nằm trên con đường làng với hai bên là những hàng cây xanh, gia đình bà Trần Thị Phượng là một trong những hộ đầu tiên làm nghề tại địa phương. Bà cho biết trước đây cả nhà chủ yếu sống nhờ làm lúa, nhưng thu nhập bấp bênh, mùa được mùa mất. Những năm nghề đương hàng thủ công bắt đầu phát triển, gia đình bà chuyển sang nhận hàng về làm thêm lúc nông nhàn rồi gắn bó đến nay. Trước sân nhà, dù tuổi đã gần 70, đôi tay bà vẫn bà Phượng vẫn thoăn thoắt đương những tấm lót hình oval, bề ngang khoảng ba tấc, dài bốn tấc. Bà nói: “Mỗi ngày làm lai rai vậy mà cũng được khoảng 70-80 ngàn đồng. Tính ra mỗi tháng cũng kiếm được cỡ hai triệu, đủ tiền chợ”. Rồi bà chỉ tay về căn nhà xây khang trang phía sau, cười: “Ngày trước nhận đương nhiều, nhờ vậy mới cất được nhà đó”. So sánh với trồng lúa, bà cho biết nghề này đỡ cực, phù hợp với nhiều lứa tuổi. Người lớn tuổi ngồi làm tại nhà, người trẻ đi làm ruộng hoặc làm công rồi tranh thủ phụ thêm vào buổi tối. Sau giờ học, con cháu trong nhà cũng xúm lại phụ giúp cha mẹ. Nhờ nghề, nhiều hộ dân trong vùng dần ổn định cuộc sống, có điều kiện sửa sang nhà cửa và lo cho con cái ăn học.
Không chỉ thu hút những người lớn tuổi, nhiều lao động trẻ tại địa phương cũng gắn bó với nghề. Chị Nguyễn Thanh Thơ, 35 tuổi, đang cùng vài người thân làm những chiếc giỏ xách bằng lục bình để kịp giao cho cơ sở thu mua. Trong tiếng kéo cắt lách tách, tiếng khung sắt va nhau hòa cùng tiếng quạt máy chạy vù vù giữa trưa nóng miền Tây, chị thoăn thoắt luồn từng sợi lục bình quanh khung giỏ. Chị kể hồi trước từng đi làm công nhân ở xa, nhưng thu nhập không ổn định. Vài năm gần đây, khi có con nhỏ, chị trở về quê nhận hàng làm tại nhà, vừa chăm con vừa kiếm thu nhập. Theo chị: “Đặc tính của lục bình khi khô là dẻo dai, vì thế khi đương không bị dằm hay xước tay, nên dễ làm”. Thật vậy, nghề này không quá khó, chỉ cần chịu khó học vài tuần là có thể thạo việc. Những người làm quen tay sẽ nhận được nhiều sản phẩm hơn, thu nhập cũng cao hơn: “Có hôm làm liên tục từ sáng tới tối, thu nhập cũng được hơn trăm ngàn”.
Các sản phẩm từ lục bình này hiện khá đa dạng như thảm trải sàn, đế lót nồi, giỏ xách, khay đựng đồ, vật trang trí… Ngoài tiêu thụ trong nước, nhiều mặt hàng còn được xuất khẩu sang Nhật Bản, Hàn Quốc và châu Âu, nhờ xu hướng sử dụng vật liệu tự nhiên, thân thiện môi trường. Cái hay của nghề là sự kết nối chặt chẽ giữa người dân và doanh nghiệp. Các hợp tác xã cung cấp nguyên liệu, mẫu mã và mua lại sản phẩm tận nơi, giúp người nông dân an tâm bám trụ với làng quê mà không phải rời quê đi làm ăn xa.
Qua đôi tay và sự sáng tạo của những con người thuần hậu miền sông nước, loài lục bình vốn gắn liền với sự lênh đênh giờ đây không còn trôi dạt vô định, mà đã giúp không biết bao người thoát cảnh lận đận.
VŨ HOÀNG
Bình luận