Công giáo Việt Nam và văn hóa dân tộc

Thánh lễ Hôn phối: Với người Công giáo thì lễ Tế tơ hồng đã nhường chỗ cho thánh lễ Hôn phối ý nghĩa và trang trọng hơn. Về ý nghĩa, thánh lễ Hôn Phối không chỉ là dịp để tạ ơn Thiên Chúa vì đã tác hợp, mà còn là lúc tình yêu của đôi tân hôn được đặt trong bối cảnh của phụng vụ Thánh Thể - nơi Đức Kitô hiện diện, chúc lành và hiệp thông. Chính trong Bí tích Hôn Phối, lời hứa trở nên giao ước và tình yêu con người được thánh hóa nhờ ân sủng của Thiên Chúa. Sự kết hợp giữa người nam và người nữ trở thành dấu chỉ sống động của giao ước giữa Đức Kitô và Hội Thánh. Về nghi thức, ngoài hai phần chung là Phụng vụ Lời Chúa và Phụng vụ Thánh Thể, thánh lễ Hôn Phối còn có phần cử hành Bí tích Hôn Phối. Trong phần này, linh mục chủ tế đại diện cho Hội Thánh sẽ là người chứng hôn. Trước hết, ngài hỏi đôi tân hôn về sự tự do và tự nguyện, về việc yêu thương và tôn trọng nhau suốt đời, về tinh thần sẵn sàng đón nhận và giáo dục con cái theo luật Đức Kitô và Hội Thánh. Khi cả hai đều đã bày tỏ sự tự do và ý muốn của mình, họ sẽ cùng tuyên hệ trước bàn thờ Thiên Chúa rằng:

“Anh/em là [tên mình] nhận em/anh là [tên người phối ngẫu] làm vợ/chồng của anh/em, và hứa giữ lòng chung thủy với em/anh, khi thịnh vượng cũng như lúc gian nan, khi mạnh khỏe cũng như lúc đau yếu, để yêu thương và tôn trọng em/anh mọi ngày suốt đời anh/em”.

lecuoi.jpg (65 KB)

Lời tuyên hứa này vừa trang trọng, vừa đầy tính nhân bản, nói lên lời thề ước hôn nhân một cách đủ đầy và trọn vẹn. Đây không chỉ là một nghi thức phụng vụ mà còn là một nét đẹp văn hóa chỉ có ở người Công giáo. Sau khi cả hai đã tuyên hứa thì vị chủ tế, với vai trò chứng hôn, sẽ khấn nguyện rằng:

“Xin Chúa tỏ lòng nhân hậu chuẩn y sự ưng thuận anh chị vừa tỏ bày trước mặt Hội Thánh, và xin Chúa tuôn đổ phúc lành của Ngài trên anh chị. Sự gì Thiên Chúa đã kết hợp, loài người không được phân ly”.

Đó vừa là lời chúc phúc, vừa là lời nhắc nhớ về tính bất khả phân ly của hôn nhân Công giáo. Cuối cùng, linh mục làm phép nhẫn, và đôi tân hôn trao nhẫn cho nhau như dấu chỉ của tình yêu lòng chung thủy.

Chính vì ý nghĩa và tính trang trọng mà thánh lễ Hôn Phối luôn được người Công giáo xem là phần quan trọng nhất. Việc được cử hành hôn lễ công khai trong nhà thờ không chỉ thể hiện sự chứng hôn của Giáo hội, còn điều kiện để đôi tân hôn nhận được sự công nhận và chúc phúc của giáo xứ, họ đạo mà hai bên gia đình đang cư ngụ. Nếu vì một lý do nào đó đôi tân hôn không được cử hành Bí tích Hôn Phối hoặc chỉ được cử hành một cách riêng tư, thì sẽ cảm thấy thiệt thòi. Đấng bản quyền một số nơi cũng không khuyến khích giáo dân tham dự tiệc cưới của những cặp đôi người Công giáo nhưng không thực hiện Bí tích Hôn Phối, để tránh làm gương xấu. Bởi vậy mà các cặp đôi Công giáo thường cố gắng chuẩn bị đầy đủ các điều kiện cần thiết (lãnh nhận bí tích Thêm Sức, bí tích Hòa Giải, đã học và tốt nghiệp khóa Giáo lý Hôn nhân, không phạm Giáo luật hay luật tự nhiên…), để có thể lãnh nhận Bí tích Hôn Phối một cách công khai trong thánh lễ.

Đám cưới (bao gồm Nạp Tệ, Thân Nghinh và Gia Tiên): Thuở trước, trong Lễ Hỏi, hai bên gia đình sẽ trao đổi về lễ vật thách cưới. Đến ngày rước dâu, nhà trai mang đủ lễ vật đã định sang nhà gái để làm Lễ Nạp tệ. Ngày nay, nếu hai bên gia đình tinh gọn, không làm Lễ Hỏi riêng hoặc gộp chung với ngày cưới, thì trước đó thường có một buổi gặp gỡ để thống nhất các việc cần chuẩn bị.

Về sính lễ, trầu cau là vật không thể thiếu theo truyền thống Việt Nam, còn lại thì đã giản lược nhiều so với trước. Thời phong kiến, người ta thường quan niệm con gái gả đi là con người ta nên mới có câu “dâu con, rể khách”. Và cũng vì thế mà nhiều gia đình xem việc cưới gả như một cuộc trao đổi, đòi sính lễ thật cao, tục gọi là “gả bán”. Chuyện hai bên gia đình, mẹ chồng con dâu bất hòa ngày trước lắm khi cũng do nhà gái đòi sính lễ quá cao, nhà trai dùng chiêu này cách nọ chứ không thật tình đáp ứng. Ngày nay, tuy việc thách cưới vẫn còn, nhưng phần nhiều chỉ mang tính tượng trưng, chủ yếu để giữ gìn phong tục chứ không quá đặt nặng giá trị vật chất, nhất là với người Công giáo. Sính lễ đôi lúc chỉ có trái cây, xôi gà, nhưng được trình bày trang trọng và đẹp mắt để phục vụ cho việc chụp hình cưới.

Theo Việt Nam phong tục của Phan Kế Bính Đất lề quê thói của Nhất Nam, xưa người dẫn đầu đoàn rước dâu phải là một ông lão hiền lành, phúc hậu, không có tang, vợ chồng song toàn, lắm con nhiều cháu. Tay ông cầm bó hương đang cháy hoặc lư hương nhỏ đốt trầm, theo sau là những người đội sính lễ và họ hàng nhà trai. Ngày đó, mẹ chồng tương lai thường không đi rước dâu, nhưng nay thì cả cha mẹ chồng đều có mặt. Người đàn ông dẫn đầu đoàn cũng là người đại diện phát biểu, xin dâu và giới thiệu họ hàng nhà trai.

Sau khi hai bên gặp gỡ, nhà gái sẽ thắp hương làm lễ Cáo Gia Tiên để báo cho tổ tiên biết về hôn sự. Sau đó, dâu ra chào họ hàng nhà trai, rồi cùng chú rể làm lễ Yết Tổ ở từ đường (hoặc nhà trưởng tộc) và lễ Yết Gia Tiên ở tư gia, nghĩa là ra mắt với ông bà tổ tiên bên nhà gái. Hai bên gia đình sau đó cùng dùng tiệc nhẹ, trò chuyện rồi bắt đầu lễ Thân Nghinh, tức là đưa dâu. Khi nhà trai đứng lên từ biệt, nhà gái thường cử người bưng tráp trầu ra mời thay cho lời tiễn biệt. Ngày nay, tráp trầu được thay bằng tráp sính lễ để nhà trai mang về. Có nơi nhà gái chỉ lấy một nửa số sính lễ, có nơi lấy trọn - tùy tập quán từng vùng.

 (còn nữa)

KỲ PHONG

Từ khoá:
Chia sẻ:

Bình luận

có thể bạn quan tâm

Đọc lại truyện con ngựa trong tranh
Đọc lại truyện con ngựa trong tranh
Ở Trung Hoa, kỳ thư Liêu Trai Chí Dị 聊齋誌異 được Bồ Tùng Linh 蒲松齡 (1640-1715) sáng tác trong khoảng hơn bốn mươi năm, từ cuối đời Minh (1368-1644) sang đầu đời Thanh (1644-1912).
Vũng Tàu và các tên gọi địa danh xưa đến nay (kỳ 12 - kỳ cuối)
Vũng Tàu và các tên gọi địa danh xưa đến nay (kỳ 12 - kỳ cuối)
Các xã Hòa Hội, Hòa Bình, Hòa Hưng thuộc huyện Xuyên Mộc, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu cũ, nhập thành xã Hòa Hội thuộc TPHCM. 
Sắc Xuân về nơi xứ đạo
Sắc Xuân về nơi xứ đạo
Những ngày cuối năm, nhiều nhà thờ khoác lên mình diện mạo mới với hoa và ánh sáng rực rỡ. Không gian các xứ đạo càng thêm rộn ràng, tràn ngập sắc Xuân. 
Đọc lại truyện con ngựa trong tranh
Đọc lại truyện con ngựa trong tranh
Ở Trung Hoa, kỳ thư Liêu Trai Chí Dị 聊齋誌異 được Bồ Tùng Linh 蒲松齡 (1640-1715) sáng tác trong khoảng hơn bốn mươi năm, từ cuối đời Minh (1368-1644) sang đầu đời Thanh (1644-1912).
Vũng Tàu và các tên gọi địa danh xưa đến nay (kỳ 12 - kỳ cuối)
Vũng Tàu và các tên gọi địa danh xưa đến nay (kỳ 12 - kỳ cuối)
Các xã Hòa Hội, Hòa Bình, Hòa Hưng thuộc huyện Xuyên Mộc, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu cũ, nhập thành xã Hòa Hội thuộc TPHCM. 
Sắc Xuân về nơi xứ đạo
Sắc Xuân về nơi xứ đạo
Những ngày cuối năm, nhiều nhà thờ khoác lên mình diện mạo mới với hoa và ánh sáng rực rỡ. Không gian các xứ đạo càng thêm rộn ràng, tràn ngập sắc Xuân. 
Cuốn sách dạy tôi cách “thương” những lần mình thất thế
Cuốn sách dạy tôi cách “thương” những lần mình thất thế
Tôi vẫn nhớ như in buổi chiều thứ Bảy chưa xa, thành phố đón một cơn mưa bất chợt và dai dẳng. Để tránh mưa, tôi tấp vội xe vào một hiệu sách cũ nằm khuất trong con hẻm nhỏ.
Một bài thơ cuối năm chúc lành cho năm mới
Một bài thơ cuối năm chúc lành cho năm mới
Sinh ở đảo quốc Haiti (thuộc vùng biển Caribe), Hebert Logerie sang Mỹ định cư khi đang tuổi thiếu niên, sau đó tốt nghiệp đại học Rutgers (New Jersey). Từ khi còn rất trẻ, Logerie đã sớm sáng tác bằng tiếng Pháp (ký tên Hébert Logerie) và tiếng Anh (ký...
Tản mạn cà phê và người lính
Tản mạn cà phê và người lính
Có một thời, thập niên 1990, đi ngang các quán cà phê phía Bà Chiểu hay Bà Quẹo, thường nghe vẳng ra mấy câu hát “Mình, ba đứa hôm nay gặp nhau, nâng ly cà phê, với mùi hương ngạt ngào…”; hoặc “Cho tách cà phê, cô nàng xanh tóc/...
Sự trở lại ngoạn mục của loài ngựa hoang dã cuối cùng
Sự trở lại ngoạn mục của loài ngựa hoang dã cuối cùng
Suốt nhiều thế kỷ, loài ngựa hoang Przewalski luôn đóng một vai trò trong truyền thống văn hóa Mông Cổ, nơi chúng là tượng trưng cho sự tự do của miền thảo nguyên bát ngát và sức sống bền bỉ.
Di chỉ lạ về các chiến mã cách đây gần  2.000 năm
Di chỉ lạ về các chiến mã cách đây gần 2.000 năm
Các chuyên gia tại Ðức đã khai quật một “nghĩa địa” quy mô lớn dành cho loài ngựa có từ thời La Mã, trong một phát hiện được giới nghiên cứu đánh giá là “vô cùng hiếm”.
Vui xuân nơi xứ đạo
Vui xuân nơi xứ đạo
Trước, trong và sau Tết cổ truyền, ở các giáo xứ đều có tổ chức đa dạng nhiều hoạt động vui Xuân. Thiếu nhi được tham gia nhiều trò chơi vận động, vui chơi, mang lại tiếng cười, niềm vui năm mới.