Góp nhặt những câu chuyện lịch sử (P4)

ĐI TÌM TÁC GIẢ CỦA BÀI INÊ TỬ ĐẠO VÃN

II. CÁC KHÍA CẠNH VĂN HỌC VÀ LỊCH SỬ

Như chúng ta đã thấy, cuộc bách hại năm 1700 là nguồn gốc của một tác phẩm nghệ thuật được phổ biến rộng rãi vào thế kỷ 18 trong cộng đồng Công giáo Việt Nam, trước khi được in ấn vào thế kỷ sau. Vào thời điểm mà ảnh hưởng của văn học nhân sinh quan Trung Hoa chiếm ưu thế, nhưng vẫn không làm giảm đi tính độc đáo của văn học và tư tưởng Việt Nam. Bài vãn về cuộc tử đạo của bà Anê đã chứng tỏ một định hướng văn học mới. Do đó, việc làm nổi bật sự kiện lịch sử quan trọng nhất của một thời điểm và những khía cạnh văn học là điều thích hợp.

Bia mộ của cha Laurent.jpg (89 KB)
Bia mộ của cha Laurent

1. Sự hiện diện của Công giáo trong văn học dân tộc

Từ góc nhìn lịch sử, chúng ta thử làm sáng tỏ thông điệp của tác phẩm được sáng tác này. Cùng với rất nhiều tác phẩm khác, bài vãn chứng minh rằng người Công giáo Việt Nam đã và đang nỗ lực thúc đẩy một nền văn học Công giáo vừa mang tính dân tộc, vừa cởi mở với các giá trị phổ quát của đạo Chúa Kitô. Giáo hội không bị ràng buộc với bất kỳ nền văn hóa nào, nhưng hoạt động thông qua sự trung gian của mỗi nền văn hóa để truyền tải thông điệp yêu thương và hòa bình. Sự hiệp nhất của con người trong Chúa Kitô không phải là sự đồng nhất làm lu mờ tính đặc thù văn hóa của các dân tộc. Mỗi ngôn ngữ đều sở hữu độc đáo riêng và thể hiện thông điệp của Chúa Kitô theo cách riêng của mình. Tác giả của bài vãn đã tái hiện điều đó trong phạm vi chữ Quốc ngữ.

Vấn đề thuật ngữ Công giáo Việt Nam đã phát sinh từ thế kỷ 17 . Phiên âm các thuật ngữ trong các ngôn ngữ phương Tây là giải pháp chấp nhận được cho tên riêng. Hiện nay, cũng giống như trong bài vãn về cuộc tử đạo của bà Anê, viết Inê (Anê), Loren (Laurent), Mátcô (Marc), Save (Elisabeth), Duminh (Dominique). Nhưng phương pháp này tỏ ra không đủ khi nói đến các khái niệm liên quan đến khoa học tôn giáo. Các thuật ngữ Phapha (Giáo Hoàng) và Thày cả Vitvồ (Đại diện Tông tòa) mà tác giả bài vãn sử dụng đã không còn tồn tại và đã được thay thế bằng Đức Thánh Cha và Giám mục đại diện Tông tòa. Công lao của tác giả nằm ở nỗ lực tạo ra các thuật ngữ diễn đạt thông qua hình ảnh, theo đúng tinh hoa của tiếng Việt, những gì thể hiện rõ ràng trong đời sống Kitô giáo ở phương Tây. Việc truyền chức linh mục là bí tích ban cho người Kitô hữu danh hiệu bậc thầy, như lời diễn đạt chức đang nên thầy đã nói theo nghĩa đen: Phú dâng cho Chúa mặc làm/ Học hành thông suốt, chức đang nên thầy (15-16).

Linh mục, với tư cách là mục tử của các linh hồn, ngày nay được gọi là linh mục. Vì không tìm được thuật ngữ này, tác giả đành bằng lòng với một lời giải thích tuy không súc tích như mong muốn nhưng vẫn diễn đạt chính xác nội dung: Cậu là Loren cha linh hồn thật (381). Tác giả dịch Giám mục là Thầy cả và Đức Thầy: Nầy lời thầy cả gởi khuyên (219); Xin cha nghe lịnh Đức thầy bề trên (246). Đức thầy đã vượt qua thử thách của thời gian, trong khi thầy cả ngày nay có nghĩa là linh mục. Ngược lại, từ cha cả được tác giả dùng với nghĩa là Đại diện Tông tòa: Nầy lời cha cả khuyên sao (205). Theo nghĩa văn tự, cha cả là người cha đáng kính. Ý nghĩa nguyên thủy của định danh này theo ý tác giả dùng, đã sớm bị thay thế. Vào năm 1771, khi cha Pigneau de Béhaine được tấn phong Giám mục và được gọi là Cha cả. Danh xưng này cũng được ghi nhận trong cụm từ Lăng Cha cả, chỉ ngôi mộ của vị Giám mục, tọa lạc ở Sài Gòn. Điều này khẳng định rằng bài vãn được viết trước khi từ Cha cả được thay đổi là Giám mục.

Đóng góp của bài vãn cho thuật ngữ tôn giáo có vẻ nhỏ bé, nhưng là một tài liệu lịch sử cho các nhà ngữ văn và đánh dấu một giai đoạn phát triển của tiếng Việt. Cốt lõi trong nỗ lực của tác giả nằm ở cách ông đề cập đến Thiên Quốc và vinh quang của sự tử đạo. Ông đã vượt ra ngoài ý nghĩa vật lý của từ Trời và từ Hán Việt tương đương là Thiên. Trong các câu thơ sau, cõi trời (nghĩa là trên trời) có nghĩa là thánh và thượng thiên là vương quốc nước trời: Đêm ngày cầu nguyện dưới Bàn/ Xin hai em đặng làm quan cõi trời (259-260); Hay đâu cha đã kíp về thượng thiên (44).

Ân huệ của sự tử đạo được ví như niềm hạnh phúc được ghi vào sổ vàng của những người thắng cuộc trong các cuộc thi theo hệ thống giáo dục nhân văn cổ đại của Trung Quốc: Khoa nầy chẳng gặp bảng vàng/ Ngày nào cho đặng hiển vang cõi trời? (243-244). Nói về Thiên đường, tác giả ví với sự tinh khiết của pha lê và không coi thường biểu hiện thanh nhàn (hòa bình và thanh thản) mang âm hưởng Đạo giáo: Linh hồn tới chốn lưu ly/ Thanh nhàn tự tại oai nghi rỡ ràng (240-241).

Việc lồng ghép các giá trị văn hóa truyền thống vào bài vãn chứng tỏ văn học Công giáo được xây dựng trên nền tảng tôn trọng hồn cốt văn hóa Việt Nam, đúng như những đòi hỏi của đức tin. Tác giả đã có những đóng góp khiêm tốn vào việc quảng bá Quốc ngữ, vốn được quan phòng để thay thế chữ Nôm vào thế kỷ 19 như một công cụ tạo nên sự độc lập văn hóa. Sáng tạo văn học bằng chữ Quốc ngữ là con đường lịch sử mà tác giả đã tham gia vào cộng đồng dân tộc.

 

02-17_PJQV.jpg (60 KB)
Lăng Đức cha Cả (Bá Đa Lộc) khi chưa giải tỏa

2. Lịch sử Văn học về cuộc bách hại

Do tính xác thực của lời chứng, bài vãn về cuộc tử đạo của bà Anê có thể được coi là lịch sử văn học về cuộc bách hại năm 1700. Tình hình tôn giáo vào đầu thế kỷ 18 được trình bày một cách khái quát, nhưng hành vi và tâm lý của các nhân vật chính trong câu chuyện đã phản ánh đúng bản chất. Cuộc bách hại bắt đầu bằng một chiếu chỉ do chúa Minh Vương Nguyễn Phúc Chu ban hành vào năm Canh Thìn (1700):       Canh thìn vừa thuở thiên khai/ Nguyễn chúa trị đời hiệu lịnh cả ra (105-106). Cha Louvet đã cho biết chi tiết sắc lệnh này: “Nhà vua ra lệnh phá hủy các nhà thờ mới trên khắp vương quốc, đốt cháy tất cả sách vở và vật dụng tôn giáo tìm thấy, bắt giữ các nhà truyền giáo, và thay vì lưu đày như những người tiền nhiệm, họ bị giam giữ nghiêm ngặt trong tù; buộc tất cả những người đã theo Kitô giáo phải từ bỏ đức tin, và để đảm bảo mọi người đều tuân thủ, triệu tập tất cả cư dân của mỗi làng đến chung một nơi để bước qua cây Thánh giá; những ai từ chối sẽ bị xử tử” .

Cuộc bách hại năm 1700 đã giáng một đòn mạnh vào các nhà truyền giáo và cộng đồng Kitô hữu. May mắn thay, thừa sai Arnédo, một nhà toán học, cố vấn của chúa Nguyễn Phúc Chu, đã được thả sau ba ngày ngồi tù. Nhờ ảnh hưởng của nhà truyền giáo này, và trên hết là lòng kiên nhẫn anh hùng của các Kitô hữu, chúa Nguyễn Phúc Chu đã khoan dung bãi lệnh vào năm 1704 .

Ngay từ đầu cuộc bách hại, Đức cha François Pérez, Đại diện Tông tòa giáo phận Đàng Trong lúc bấy giờ, đã sống ẩn dật, chờ đợi thời cơ tốt đẹp hơn, đầu tiên là trên thuyền, sau đó là trong một hang động rất hẻo lánh ven biển, cùng với một vài thầy giảng. Từ đó, ngài gởi một lá thư cho cha Laurent, anh trai của bà Anê, dặn dò cha phải cố gắng sống sót bằng mọi giá: Khuyên thầy ở lại sớm khuya/ Cùng bổn đạo khỏi thì nguy hiểm/ Giúp hạn mưa rào trợ hiểm/ Khỏi chưng thì hoạn nạn bổn dân/ Ơn Chúa đượm nhuần sáng soi phù hộ (235-239). Vì lòng vâng phục, cha Laurent đã phải từ bỏ quyết tâm chịu tử đạo. Hơn nữa, thừa sai René Forget, với tư cách là Giám quản miền Truyền giáo, đã gởi cho ngài một lá thư có nội dung tương tự như lá thư của vị Giám mục. Các Kitô hữu, bao gồm cả em gái Anê và em trai Dominique, cũng khuyên ngài theo hướng đó. Nhờ Tổng đốc Dinh Cát , ngài được trả tự do và rời khỏi nhà tù, không khỏi tiếc nuối: Thầy bèn lã chã châu rơi:/ Anê em hỡi, anh ngồi sao an?/ Một mai mặc lịnh nhà quan/ Em chớ phàn nàn, anh lại buồn thêm/ Em về anh ở sao an?/ Khoa nầy chẳng liệu, mà toan khoa nào? (199-204)

(còn nữa)

------------------------------------------------------

1 Gia phả họ Đỗ ở làng Bồng Trung, huyện Vĩnh Lộc, Thanh Hóa  được viết TK 17, có cụ Đỗ Hưng Viễn theo đạo Công giáo, gọi là Hoa Lang đạo (...tùng Hoa lang đạo).

2 Ngày 02 tháng 3 năm 1983, lăng được cải táng. Khu lăng cải táng được làm Vòng xoay cho nút giao các trục đường như Cộng Hòa, Hoàng Văn Thụ, Trần Quốc Hoàn, Lê Văn Sỹ, Bùi Thị Xuân thuộc TPHCM. Do đó, vòng xoay này được gọi là vòng xoay Lăng Cha Cả.

3 L.E. LOUVET, La Cochinchine Religieuse ,Paris 1885, tome I, trang 323

4 L.E. LOUVET, Sđd, trang  324 và 339.

5 L.E. LOUVET, Sđd, trang  328-329.

6 Khi cha Laurent làm việc mục vụ ở Dinh Cát (1690-1732), cha có làm phiên dịch tiếng Anh cho chúa Nguyễn Phúc Chu với phái bộ Anh (1695-1696). Nhờ đó chúa Nguyễn ưu ái.

 

Lm Gioan VÕ ĐÌNH ĐỆ

Từ khoá:
Chia sẻ:

Bình luận

có thể bạn quan tâm

Biển xanh vỗ về tình bạn
Biển xanh vỗ về tình bạn
Một buổi chiều mùa hè, tôi ngồi trên bãi cát, hướng mắt ra đường chân trời xa tắp - nơi màu xanh của biển và bầu trời hòa lẫn làm một.
Những pho tượng đẹp ở xứ Thánh Tâm
Những pho tượng đẹp ở xứ Thánh Tâm
Giữa mảng xanh rộng lớn của khuôn viên nhà thờ Thánh Tâm, giáo hạt Hố Nai, GP Xuân Lộc, có nhiều bức tượng lớn với gam màu sáng.
Nét kiến trúc độc đáo ở nhà thờ Suối Tre
Nét kiến trúc độc đáo ở nhà thờ Suối Tre
Nhà thờ Suối Tre (giáo phận Xuân Lộc) do kiến trúc sư người Pháp vẽ mẫu vào khoảng năm 1958. Công trình được thi công trong giai đoạn 1961-1963, sử dụng nhiều vật liệu nhập từ Pháp như khung sắt và chuông.
Biển xanh vỗ về tình bạn
Biển xanh vỗ về tình bạn
Một buổi chiều mùa hè, tôi ngồi trên bãi cát, hướng mắt ra đường chân trời xa tắp - nơi màu xanh của biển và bầu trời hòa lẫn làm một.
Những pho tượng đẹp ở xứ Thánh Tâm
Những pho tượng đẹp ở xứ Thánh Tâm
Giữa mảng xanh rộng lớn của khuôn viên nhà thờ Thánh Tâm, giáo hạt Hố Nai, GP Xuân Lộc, có nhiều bức tượng lớn với gam màu sáng.
Nét kiến trúc độc đáo ở nhà thờ Suối Tre
Nét kiến trúc độc đáo ở nhà thờ Suối Tre
Nhà thờ Suối Tre (giáo phận Xuân Lộc) do kiến trúc sư người Pháp vẽ mẫu vào khoảng năm 1958. Công trình được thi công trong giai đoạn 1961-1963, sử dụng nhiều vật liệu nhập từ Pháp như khung sắt và chuông.
Thử nhìn bằng góc nhìn của người khác
Thử nhìn bằng góc nhìn của người khác
Hồi còn nhỏ, nhà tôi có một cái bàn gỗ đặt gần cửa sổ, trên bàn có đủ thứ đồ, khi thì tập sách của anh em tôi, lúc lại là mấy cái điều khiển tivi mà chúng tôi cầm nhầm từ phòng khách làm người lớn cứ đi phải...
Nhà thờ bên đập nước
Nhà thờ bên đập nước
Đập Tam Giang là một công trình thủy lợi, và là thắng cảnh đẹp thu hút nhiều du khách đến thăm vùng quê thuộc địa phận huyện Tuy An, tỉnh Phú Yên (cũ). Đập này được xây dựng chắn ngang con sông Cái - là nơi 3 dòng sông được...
Đến và trở về với Chúa
Đến và trở về với Chúa
Tôi từng nghĩ mình hiểu thế nào là đứng trước nỗi đau của một người khác, cho đến ngày mẹ của một người bạn tôi qua đời. Nhớ lại những ngày đầu năm 2026, đó là lúc chúng tôi đang trong kỳ thi cuối năm ba đại học.
Thánh tích Mẹ Têrêsa Calcutta tại giáo xứ Thanh Đa
Thánh tích Mẹ Têrêsa Calcutta tại giáo xứ Thanh Đa
Giáo xứ Thanh Đa (TGP TPHCM) từng đón tiếp Mẹ Têrêsa Calcutta hai lần vào các năm 1993 và 1994. Hiện nay, nhà thờ lưu giữ nhiều thánh tích của Mẹ, như tóc, máu và mảnh áo.
Thanh Hóa chuyện xưa  dấu cũ
Thanh Hóa chuyện xưa dấu cũ
Có một đặc điểm chung của những ngôi nhà thờ cổ được xây dựng ở Việt Nam vào cuối thế kỷ XIX - đầu thế kỷ XX, là dù có mặt tiền theo kiểu truyền thống hay một phong cách nào đó của châu Âu, thì kết cấu bên trong...
Y Vân và ca khúc bất hủ về mẹ
Y Vân và ca khúc bất hủ về mẹ
Trong kho tàng âm nhạc (tân nhạc) Việt Nam, có thể nói ca khúc Lòng Mẹ của Y Vân là một tác phẩm bất hủ. Nhiều người ví von đó là một bản “quốc ca” về tình mẫu tử - không chỉ bởi giai điệu mượt mà, lời ca giàu...