Tư thế và cử chỉ khi tham dự cuộc đối thoại “Hãy nâng tâm hồn lên”
Quy chế phụng vụ hiện nay [liên quan đến tư thế và cử điệu của người tham dự trong cuộc đối thoại “Hãy nâng tâm hồn lên”] cho biết rằng linh mục dang tay trong tư thế cầu nguyện (orans), đang khi đó, các tín hữu không cần phải có một cử chỉ đặc biệt nào. Jungmann nói về tư thế cầu nguyện này của linh mục như sau:
Ý nghĩa cổ xưa của hình thức này cũng được biểu lộ trong cử chỉ đi kèm; việc kêu mời hãy nâng tâm hồn lên được đi kèm với việc linh mục nâng cao hai tay của mình lên, và rồi linh mục vẫn giữ hai tay dang ra trong thái độ cầu nguyện, với tư thế cầu nguyện của Hội Thánh ngày xưa1.
Quả thật, đây là một cử chỉ và tư thế đã tồn tại ngay từ thời Hội Thánh sơ khai. Bởi vậy, những lời truyền thống của cuộc đối thoại “Hãy nâng tâm hồn lên” được bảo tồn thế nào thì tư thế và cử chỉ kèm theo cũng được giữ gìn như thế.
![]() |
Tuy nhiên, cử chỉ này lại trở thành một đề tài gây nhiều tranh cãi gần đây: có nên để các tín hữu cầu nguyện trong cuộc đối thoại “Hãy nâng tâm hồn lên” này với đôi tay dang ra không?
Những người phản đối ý tưởng này khẳng định rằng dang tay cầu nguyện là một cử chỉ cầu nguyện đặc biệt vốn chỉ phù hợp với chức năng chuyển cầu của linh mục thừa tác. Theo truyền thống, cử chỉ / tư thế cầu nguyện này nói lên chức vị của linh mục thừa tác là người đóng vai trò trung gian cầu nguyện giữa Thiên Chúa và dân Ngài. Do đó, nếu khuyến khích tín hữu sử dụng tư thế và cử điệu này thì chẳng khác gì tạo thêm sự nhầm lẫn giữa các chức năng và phẩm trật trong cấu trúc của Hội Thánh.
Các học giả ủng hộ tín hữu sử dụng cử điệu cầu nguyện dang tay lại nhấn mạnh rằng ý nghĩa của nó không chỉ giới hạn trong việc chuyển cầu. Họ cho rằng tư thế cầu nguyện dang tay cũng được các tín hữu thuở xưa thực hành như một phần của truyền thống phụng vụ và được mô tả trong các tác phẩm của Tertulianô, Origen, Athenagoras cũng như những tác giả khác nữa. Sau khi đã nghiên cứu và khám phá ra tư thế cầu nguyện trong cộng đoàn phụng tự của các Kitô hữu thời xưa, như được tìm thấy nơi 3 giáo phụ vừa nêu [mà tất cả đều nói đến việc nâng hai tay lên và mắt thì hướng về Chúa], E. Ferguson đi đến kết luận sau:
Tất cả điều này khiến tôi đề xuất trường hợp nào thì trỗi dậy mà đưa ra lời “Hãy nâng tâm hồn lên”. Câu “Hãy nâng tâm hồn lên”này có giá trị như chữ đỏ vậy nhằm mời gọi các tín hữu hãy nâng tay của họ lên, hay nếu như họ đang ngồi, thì đứng dậy và nâng đôi tay họ lên cao khi tham dự Kinh nguyện Thánh Thể. Khi tất cả tín hữu cùng nhau trỗi dậy, như Justinô nói, họ cũng nâng hai tay lên, mắt ngước lên trời và miệng đáp lại “Tâm hồn chúng con đang ở với Chúa”. Bằng cách này, cộng đoàn đang quy tụ lại với nhau được đánh thức vào thời khắc cao trọng này. Dân chúng được mời gọi để trỗi dậy và do đó nâng tâm hồn họ lên với Chúa. Sự việc nâng cao tâm hồn của họ lên được diễn tả ra bên ngoài bằng cách nâng cao đôi tay lên để cầu nguyện. Dân chúng đã đáp lại bằng cử điệu và lời nói của họ trong việc hiến dâng chính mình cho Thiên Chúa. Vì thế, hy lễ cầu xin và tạ ơn được kèm theo bằng một tế phẩm biểu tượng là dân chúng trình bày chính họ trước nhan Thiên Chúa2.
Như vậy, Ferguson tin rằng chính cử điệu làm bật ra ngôn từ chứ không phải ngược lại. Cuộc đối thoại “Hãy nâng tâm hồn lên” là một lời hô hào củng cố cho tư thế hay cử điệu cầu nguyện vốn cho phép biểu lộ ra bên ngoài thái độ bên trong của chúng ta. Đây là điều cần thiết và đáng ao ước trước khi bước vào phần Lễ quy của thánh lễ.
Trong Kitô giáo, cử điệu dang tay và giơ lên cao là thái độ cầu nguyện mà các Kitô hữu ban đầu thường xuyên thực hiện như chúng ta thấy trên các hình ảnh và bản văn để lại. Suốt trong thời Trung cổ cũng vậy, các tín hữu vẫn có thói quen dang tay khi đọc kinh, nhất là tại các tu viện ở Ý và Ái Nhĩ Lan3.
Kitô hữu lấy lại cử chỉ này của người Do Thái đồng thời cho nó một ý nghĩa mới: tưởng nhớ cuộc khổ nạn của Chúa Kitô dang hai tay trên thập giá để cứu chuộc nhân loại (LNGM 104)4. Do đó, tại Rôma ngày xưa, dù người ta không chú tâm đến việc dang tay khi cầu nguyện lắm nhưng Đức Innocent III đã ra lệnh cho thầy phó tế nâng hai cánh tay của chủ tế lên khi ngài dang tay đọc lời nguyện; đầu thế kỷ XV, chủ tế thường dang thẳng cánh tay theo hình thánh giá khi đọc Lễ quy; còn hiện nay, cử chỉ dang tay luôn luôn được chủ tế sử dụng trong các lời nguyện thuộc về chủ tọa trong thánh lễ như Lời nguyện Nhập lễ, Lời nguyện Tiến lễ, Lời nguyện Hiệp lễ, kinh Tạ Ơn, và kinh Lạy Cha5.
Theo ĐGH Bênêđictô XVI, cử điệu dang tay và giơ lên cao là một trong những cử chỉ nền tảng nhất của con người khi kêu cầu Thiên Chúa và được tìm thấy trong mọi tôn giáo trên thế giới. Cử điệu dang tay có khá nhiều chức năng. Chẳng hạn, đôi tay dang ra diễn tả thái độ vừa tìm kiếm vừa hy vọng, diễn tả thái độ của con người muốn vươn đến một Thiên Chúa ẩn kín, vươn ra hướng về Ngài. ĐGH cũng đồng hóa đôi tay dang ra như hình tượng của đôi cánh, diễn tả con người nỗ lực tìm kiếm những thực tại trời cao là nơi Thiên Chúa vốn tạo ra cho họ. ĐGH cũng đưa ra hai ý nghĩa của tư thế này mà chúng ta có thể sử dụng để liên kết với hai mục đích chính của phụng vụ: tôn vinh Thiên Chúa và thánh hóa nhân loại. Ngài gọi cử điệu này như diễn tả sự bình an; bằng việc dang tay, con người mở lòng mình ra cho người khác, cho cộng đồng. Hơn nữa, đối với người Kitô hữu, đôi tay dang rộng cũng có ý nghĩa Kitô học, chúng nhắc chúng ta nhớ đến đôi tay của Chúa Giêsu dang ra trên thánh giá. Do việc dang đôi tay ra, chúng ta quyết tâm cầu nguyện với Đấng chịu đóng đinh, hợp nhất chúng ta với “tâm trí” Người (Pl 2,5).6Về điều này, ĐGH Bênêđictô XVI viết:
Trong cánh tay của Đức Kitô dang rộng trên thánh giá, người Kitô hữu nhìn thấy hai ý nghĩa. Trong trường hợp của Người, trường hợp trổi vượt trên hết, cử chỉ này là một hình thức triệt để của thờ phượng, sự hợp nhất giữa ý chí mang tính nhân loại của Người với ý chí của Chúa Cha. Nhưng đồng thời, những cánh tay ấy cũng mở ra hướng về chúng ta. Những cánh tay này mở rộng ôm lấy chúng ta, bởi đó, Đức Kitô muốn kéo chúng ta đến với Người (Ga 12, 32). Thờ phượng Thiên Chúa và yêu mến tha nhân, nội dung của điều răn chính tóm tắt luật lệ và các ngôn sứ, đã trùng hợp trong cử chỉ này. Mở chính lòng mình ra cho Thiên Chúa, hoàn toàn phó dâng chính mình cho tha nhân. Sự kết hợp hai chiều hướng của tình yêu trong cử chỉ của Đức Giêsu trên thánh giá vén mở, trong cách thế khả thị và thân xác, một chiều sâu mới của cầu nguyện Kitô giáo và như thế, diễn tả luật bên trong thuộc về lời cầu nguyện của chúng ta7.
Qua những gì vừa trình bày, chúng ta như thấy hai điều răn cao trọng nhất của Kitô giáo hòa nhập với nhau nơi cuộc đối thoại “Hãy nâng tâm hồn lên”. Con người tận hiến chính mình cho Thiên Chúa, và khi làm như thế, chúng phải trở nên sự thông chuyển bác ái hoàn hảo cho tha nhân. Chúng ta có thể kết luận rằng, cử điệu dang tay cầu nguyện đã bắt đầu nơi cuộc đối thoại “Hãy nâng tâm hồn lên” sẽ được tiếp tục sau này nơi hành vi trao chúc bình an (Pax Domini), và được hoàn tất khi chúng ta tiếp nhận Mình và Máu Chúa chúng ta và là Đấng Cứu Độ chúng ta. Khi xem xét trong ánh sáng này, chúng ta không còn bị nhầm lẫn nữa giữa vai trò của vị tư tế thừa tác với vai trò của các tín hữu nếu như cả hai đều sử dụng cùng một cử chỉ này.
(còn nữa)
Lm Giuse Phạm Ðình Ái, dòng Thánh Thể, SSS
________________________________________________
1 Jungmann, The Mass of the Roman Rite: Its Origin and Development, trans. Francis A. Brunner (NY: Benzinger Brothers, 1949),112.
2 E. Ferguson, “The Liturgical Functon of the ‘Sursum Corda’, Studia Patristica 13 (TU 116: Berlin: Akademiee Verlag, 1975), 360-363.
3 Xc. Aug. Nguyễn Văn Trinh, Thánh lễ 2, 110-111.
4Xc. A.G. Martimort, The Church at Prayer(Collegeville, MN; The Liturgical Press, 1982), 1: 186-187.
5 Xc. Aug. Nguyễn Văn Trinh, Thánh lễ 2, 110-111.
6 Joseph Ratzinger, Tinh Thần Phụng Vụ, dg. Nguyễn Luật Khoa & Phạm Thị Huy (Hà Nội: Nxb Tôn giáo, 2007), 218-219.
7 Joseph Ratzinger, Tinh Thần Phụng Vụ, 219-220.

Bình luận