Hội Thầy Giảng là một Hội gồm những nam giáo dân được quy tụ, đào tạo để tham gia vào công cuộc truyền giáo. Hội Thầy Giảng được tổ chức theo cơ chế tùy thuộc hoàn cảnh của mỗi giai đoạn lịch sử truyền giáo của các giáo phận.
THỜI KỲ BẢO TRỢ TRUYỀN GIÁO
Ngay từ buổi đầu của công cuộc truyền giáo trong giáo phận Qui Nhơn, cha Buzomi đã chọn Agostinô, một thanh niên tân tòng trong số mười tân tòng được cha ban bí tích Rửa tội tại nhà thờ Cửa Hàn vào dịp lễ Phục Sinh năm 1615[1]để theo giúp. Cha Daniello Bartoli cho rằng Agostinô là thầy giảng đầu tiên của tổ chức thầy giảng ở Đàng Trong cũng như ở Đàng Ngoài.[2]
Cha Buzomi đã đào tạo anh Agostinô thành người thông ngôn tín cẩn. Ngoài việc dạy giáo lý, cha còn thuê một gia sư dạy cho anh. Anh đã được học về ngôn ngữ và về các giáo phái. Bây giờ anh là ngôi sao tại Pulo Cambi (Nước Mặn)… Tại Pulo Cambi, cha Buzomi có được hai hay baông sãigiúp làm mọi việc. Nếu có chuyện gì xảy ra phải giải quyết hoặc những thông tin quan trọng cần phải công bố,cha cửanh thông ngôn hoặc một trong cácông sãi; khi giờ giáo lý kết thúc, cha ra về, còn họ thì ở lại hoặc để ôn tập, hoặc để chuyện trò với các dự tòng.[3]
Cha Daniello Bartoli còn nói về thầy giảng Agostinô, người trợ giúp đắc lực của cha Buzomi:“Khi cha không đủ tự tin vào khả năng ngôn ngữ của mình để rao giảng chân lý đức tin, cha dùng thông ngôn, người mà trước đó đã được cha đào tạo vững vàng về kiến thức đức tin để có thể giải nghĩa cho dân chúng. Trước tiên cha cố gắng diễn đạt bằng ngôn ngữ của mình, sau đó thông ngôn người Đàng Trong nói lại bằng ngôn ngữ Đàng Trong của anh bằng những từ diễn đạt chính xác ý nghĩa, nói được như bản sao của bản chính”.[4]
Tiếp nối thầy giảng Agostinô, cha Buzomi còn chọn thêm một số thầy giảng khác mà sử liệu cho biết năm 1627, sau cuộc thuyết giảng của thầy giảng Manuellô tại Bàu Gốc, Quảng Nghĩa, 60 người đã tin theo Chúa.[5]
Trên đường trốn lệnh trục xuất của chúa Nguyễn năm 1629, ngoài cha Buzomi, cha Majorica, thầy Torres, còn có ba thầy giảng trên một chiếc thuyền từNước Mặn xuôi vềhướng Nam.[6]
Thời gian đầu cha Đắc Lộ làm việc ở Đàng Trong (1624-1626), cha cũng chọn một cậu bé giúp cha phân biệt các dấu khác nhau và cách đọc tiếng Việt. Về sau cậu bé đã làm thầy giảng giúp các cha. Cậu đã là một dụng cụ rất tốt để tôn thờ Chúa trong giáo đoàn và cả ở nước Lào, nơi cậu hoạt động trong nhiều năm với thành quả mỹ mãn, cậu rất mến thương tôi nên đã muốn lấy tên tôi (Rhodes).[7]
Khi trở lại Đàng Trong (1640-1645), cha Đắc Lộ đã tiếp tục hoàn thiện Hội Thầy Giảng do cha Buzomi sáng lập 24 năm trước đó.
Ngày 31.07.1643, cha Đắc Lộ tổ chức lễ khấn cho các thầy giảng tại Hội An. Thầy Inhaxiô được đặt làm Bề trên của Hội Thầy Giảng tại Đàng Trong. Các thầy được chia làm hai nhóm: một nhóm do thầy Inhaxiô phụ trách hoạt động truyền giáo ở phía Bắc, từ Quảng Nam cho tới sông Gianh; nhóm thứ hai do thầy Đamasô phụ trách hoạt động ở phía Nam, từ Quảng Nghĩa đến Phú Yên.
Tháng Giêng năm 1644, nhóm thầy giảng hoạt động phía Nam đã rửa tội được 293 người và còn nhiều người đã được các thầy chuẩn bị đầy đủ để chờ cha Đắc Lộ; nhóm phía Bắc rửa tội được 330 người.[8]
Trong khi chưa thể thành lập Chủng viện để đào tạo linh mục, Hội Thầy Giảng được các thừa sai dòng Tên thành lập đã cống hiến cho Giáo hội Việt Nam những linh mục đầu tiên sau khi hai giáo phận Tông tòa được thành lập.
![]() |
| Bữa ăn của các thầy giảng xưa - ảnh: Indochine |
THỜI KỲ ĐẠI DIỆN TÔNG TÒA
Khởi đầu sứ vụ của mình, Đức cha Phêrô Lambert de la Motte, Đại diện Tông tòa tiên khởi của giáo phận Đàng Trong và Đức cha Phanxicô Pallu, Đại diện Tông tòa giáo phận Đàng Ngoài đã tổ chức Công nghị tại Ayuthia vào ngày cuối tháng Hai và kéo dài trong phần lớn tháng Ba năm 1664. Kết quả của Công nghị có tên là Huấn thị cho các thừa sai (Monita ad missionarios). Huấn thị gồm 10 chương, chương X dành cho việcĐào tao Thầy Giảng vàtiếnđến Chức Thánh.
Các linh mục đầu tiên của Hội Thánh Việt Nam (1668-1669) nguyên là các thầy giảng, trong đó cha Giuse Trang, quê Quảng Ngãi, là linh mục Việt Nam tiên khởi được truyền chức vào ngày 31.3.1668.[9]
Công nghị Hội An được khai mạc ngày 15.01.1672 do Đức cha Lambert chủ tọa. Theo cha Vachet, vị thừa sai có mặt tại Công nghị, cho biết hành phần tham dự:“Chúng tôi gồm 6 thừa sai châu Âu, 4 linh mục bản xứ và hơn 80 thầy giảng”[10]. Nơi một thư khác, chính cha Vachet cho biết cuộc họp chỉ có 30 thầy giảng.[11]
Đức cha Mahot, Đại diện Tông tòa Đàng Trong (1682-1684) triệu tập Công nghị Hội An, bế mạc ngày 18.11.1682. Theo cha Vachet,thành phần tham dự gồm 2 Giám mục, 8 thừa sai Pháp, 4 linh mục bản xứ và 83 thầy giảng, không kể những chức sắc nhỏ của các xứ đạo và các giáo hữu nòng cốt từ nhiều nơi tới[12]. Bản văn Công nghị gồm 58 điều liên quan đến nhiều lĩnh vực, trong đó lĩnh vực về các thầy giảng có 09 điều.[13]
Nơi ba Công nghị vừa nêu trên đã cho thấy tầm quan trọng của các thầy giảng trong công cuộc truyền giáo của giáo phận. Những ngày ở Nước Mặn trong chuyến kinh lý đầu tiên của Đức cha Lambert tại Đàng Trong, Đức cha đã viết thư bổ nhiệm 6 thầy giảng nơi các cộng đoàn.
Bức thư của các Thầy giảng ở Chợ Mới đề ngày 09 tháng Hai năm 1693 gởi cho cha Ausiès cho biết lúc bấy giờ các thầy giảng được chia làm bốn bậc.
Trong thư đứng tên 13 Thầy giảng[14]:
Bậc I: Nicola Vy;
Bậc II: Antôn Thien, Giuse Toan, Phêrô Hon, Giacôbê Daou (Đông), Luca Luoc;
Bậc III: Linô Ly, Tađêô Phuong, Eugêniô Luot;
Bậc IV: Luca Duyen, Giuse Muu, Micae Louc, Gioan Than.
Thời Đức cha Cuênot Thể cai quản giáo phận (1840-1861), Bản báo cáo năm 1843 cho biết các thầy giảng được chia làm ba hạng:[15]
- Hạng tại chỗ:Là những người cha gia đình có chỗ ở ổn định. Chức năng của họ là giữ gìn trật tự, hòa giải khi có tranh chấp, chủ tọa các buổi họp mặt, rửa tội cho trẻ sơ sinh, chứng hôn, mời linh mục cho các bệnh nhân nguy tử.
- Hạng lưu động:Là những thầy giảngđượcđào tạo sơcấp. Họđi theo các thừa saiđểdạy giáo lý và chuẩn bịcho cộngđoàn lãnh nhận các bí tích.
- Hạng cao cấp:Là những thầy giảng được đào tạo giáo lý và mục vụ vững vàng. Họ có khả năng đào tạo người khác, có khả năng hộ giáo.
Tiếp tục về việc đào tạo nhân sự truyền giáo của các vị tiền nhiệm của mình, Đức cha Phanxicô Xaviê Van Camelbeke Hân, Đại diện Tông Tòa Đông Đàng Trong (1884-1901), đã ban hành Bổn Luật về Hội Thầy Giảng Địa phận Đông Đàng Trong, ký ngày lễ ông Thánh Phaolô, 29.6.1899 tại Làng Sông. Bổn luật có 07 Điều, 105 khoản. Qua Bổn luật này, Hội Thầy Giảng có một quy chế từ tuyển chọn đến việc huấn luyện, quyền lợi và nghĩa vụ của một thầy giảng. Nơi Điều thứ nhất với 08 khoản nêu lên mục đích và tổ chức của Hội, Điều thứ hai về sự tuyển chọn có 07 khoản:
ĐIỀU THỨ NHẤT:
VỀ Ý CHUNG VÀ NHỮNG ĐỀU ĐẠI CÁI VỀ HỘI THẦY GIẢNG
1. Lập Hội Thầy Giảng có ý cho được nhiều người giúp các cha trong những việc kẻ không có chức thánh làm được, hầu đem kẻ ngoại trở lại đạo cho mau hơn, và dạy dỗ bổn đạo biết giữ đạo cho chín chắn.
2. Việc Bổn phận Thầy Giảng chia làm hai thứ: một là chính việc giảng đạo: như tìm kiếm và dạy dỗ chầu nhưng; hai là giúp việc nọ việc kia trong địa phận: như coi việc Nhà Chung, nhà mồ côi, v.v. Nên hễ Bề Trên định cho các thầy lãnh việc nào, thì phải vui lòng mà làm cho cần mẫn. Vì phải tin thật, dẫu việc gì nhỏ mọn mà ta làm vì lòng kính Chúa yêu người, thì hóa ra việc trọng, việc lớn trước mặt Đức Chúa Trời.
3. Cứ bổn luật này thì biết Hội Thầy Giảng chẳng phải là dòng nào riêng; nhưng mà cũng giống hội Thầy Dòng một điều này là các Thầy Giảng cũng phải nông công ra sức cho được nhơn đức trọn lành như Thầy Dòng vậy.
4. Hội Thầy Giảng có một Bề Trên là Đức Giám mục địa phận, người sẽ phân định mọi việc hội ấy mặc ý Người.
5. Nhưng mà Người mắc nhiều việc trọng khác, nên Người muốn phú cho cha làm bề trên Giáo Tập lo những việc nhỏ mọn về hội ấy: nhứt là những việc về phần xác, hay là muốn bàn tính một hai việc cần với người, sự ấy mặc ý Đức cha.
6. Hễ Đức Giám mục dạy giúp cha nào, thì cha ấy là Bề trên riêng mình.
7. Học trò Giáo Tập còn nhập trường Latinh bao lâu, thì sẽ ngồi sau bọn Rherorica, và các việc cũng như học trò Latinh, trừ sự học hành mà thôi.
8. Hội Thầy Giảng chọn ông Thánh Phaolô làm Bổn Mạng Chính, và phải kính riêng Đức cha Thể cùng các đấng tử vì đạo trong địa phận này làm Bổn Mạng tùy.
ĐIỀU THỨ HAI:
VỀ SỰ CHỌN HỌC TRÒ
9. Vốn vào bọn Giáo Tập, là học trò Latinh; nên trường Latinh sẽ lãnh cho đông học trò: mỗi năm chừng 40 học trò mới.
10. Bề trên trường Latinh xét học trò nào không trông ngày sau lên chức thánh, thì sẽ cứ đầu tháng học mà cho vào bọn Giáo Tập
11. Bề Trên Giáo Tập cũng được lãnh những đứa chưa học trường Latinh, miễn là nó được 16 tuổi sắp lên, đã biết đọc biết viết chữ Quốc Ngữ, và có giấy cha bổn sở làm chứng nó là đứa nên.
12. Hoặc ai học hành không được, hay là tính khí không ra gì, Bề Trên Giáo Tập cho về mặc ý người.
13. Kẻ đã học Latinh xong rồi mà ra địa phận, thì cũng kể vào sổ Thầy Giảng liền.
14. Hoặc có kẻ không vào trường nào, mà Đức Giám mục xét đã đáng cho làm Thầy, thì sẽ được vào hội Thầy Giảng cứ theo luật chung.
15. Được vào hội Thầy Giảng cách nào mặc lòng, ai nấy cũng bằng nhau cả, có một kẻ lâu năm, lớn tuổi hay là có chức Thánh mới lớn hơn mà thôi.
Trước khi ban hành Bổn Luật, năm 1897, Đức cha Van Camelkeke Hân thành lập trong khuôn viên chủng viện Đại An một trường đào tạo các thầy giảng, gọi là thầy giáo tập, để dạy giáo lý và chữ Quốc ngữ tại các trường học của giáo phận. Năm 1898, trường đào tạo thầy giáo tập được tiến hành tốt đẹp.[16]
Năm 1903, Đức cha Grangeon Mẫn quyết định trường Làng Sông là Tiểu chủng viện; còn trường Đại An là Đại chủng viện. Trường đào tạo các thầy giảng vẫn được gắn liền với Đại chủng viện Đại An.[17]
Đểthực hiện Bổn luật vềHội thầy giảng, năm 1908,địa phận có ra thông báo vềviệc cấp bằng cho các thầyđã hoàn thành việc giúp xứvàđã trởvềvới giađình.[18]
Ngày 12.01.1908, tại Kon Tum, trường đào tạo Yao-phu theo mô hình trường thầy giảng ở Đại An được khánh thành.[19]
Ngày 05.07.1926, theo lời thỉnh cầu của cha Jean Sion Khâm, Giám đốc trường thầy giảng và sự đồng thuận của Ban tư vấn Giáo phận họp tại Đại An, Đức cha Grangeon Mẫn thiết lập Dòng Anh Em Hèn Mọn Thánh Giuse, quen gọi là Dòng Thánh Giuse. Cha Sion Khâm làm Bề trên, Nhà Mẹ của Dòng được đặt tại Nhà Đá, nơi cha Sion đã được bổ nhiệm làm cha sở.[20]
Khi Dòng Thánh Giuse được thành lập, việc chiêu sinh cho Hội thầy giảng được dừng lại. Các thầy giảng đang làm việc ở các xứ vẫn tiếp tục công việc của mình. Hai thầy giảng giúp cha Sion lo việc dạy văn hóa cho các đệ tử của dòng.
THỜI KỲ CHÁNH TÒA
Để bố trí nhân sự trong giáo phận, ngày 31.12.1958, Đức cha Phêrô Maria Phạm Ngọc Chi ký Văn thư số 731/CĐC, bổ nhiệm cha Phêrô Nguyễn Đình Tịch phụ trách các Dòng tu thuộc quyền địa phận và các thầy giảng đang làm việc trong địa phận.
Ngày 26.4.1960, cha Phêrô Nguyễn Đình Tịch ký thông báo tái lập Hội Thầy Giảng:“Đã mấy năm nay,gánh truyền giáo vẫn cònđè nặng mãi trên vai chúng ta...,đãđến giờcần phải giải quyết tình trạng khẩn thiếtấy: Hội Thầy Giảng cần phảiđược tái lập vàođầu tháng Bảy dương lịch năm nay...”.
Khóa đầu tiên được tổ chức đào tạo tại Gia Hựu, do cha Gioakim Nguyễn Du và cha Phaolô Huỳnh Ngọc Cảnh phụ trách. Thượng tuần tháng Tám năm 1961, khóa thầy giảng đầu tiên gồm 34 người đến giúp tại các địa sở sau một năm được đào tạo.
Năm 1962, cha Phaolô Huỳnh Ngọc Cảnh được bổ nhiệm làm Giám đốc Hội Thầy Giảng. Ngày 01.8.1962, 23 thầy giảng nhập trường.
Ngày 01.8.1963, Trường Thầy Giảng tại Qui Nhơn được khai giảng với 20 thầy.[21]Trước đó, Hội Thầy Giảng chưa có trường sở riêng nên các thầy được huấn luyện ở Gia Hựu, Làng Sông.[22]
Năm 1964, cha Phaolô Huỳnh Ngọc Cảnh được bổ nhiệm làm cha sở Trung Tín. Hội Thầy Giảng ngưng hoạt động vì không có ứng sinh.
MỘT SỨ MẠNG ĐÃ ĐƯỢC HOÀN THÀNH
Hội Thầy Giảng là một tổ chức được các cha dòng Tên sáng lập, các thừa saiđến sau tiếp tục duy trì và phát triển. Cha Giuse Trang, linh mục tiên khởi của Hội Thánh Việt Nam, quê An Chỉ,Quảng Ngãi là một người xuất thân từHội này. Cha Giuse Trang là linh mục Việt Nam đầu tiên được Đức cha Phêrô Lambert de la Motte bổ nhiệm làm việc tại Nước Mặn vào năm 1672. Cũng dịp này tại Nước Mặn, Đức cha ký văn thư bổ nhiệm 06 thầy giảng trong vùng.[23]Trước đó vừa cứng một tháng, Hội Thầy GiảngđãđượcĐức cha Lambert chuẩn nhận tại côngđồng Hội An[24].
Hội Thầy Giảng đã sớm ghi công và nhẫn nại tham gia khi ít khi nhiều trong việc viết trang sử truyền giáo của giáo phận cho đến tiền bán thế kỷ 20. Các thầy là những trợ tá đắc lực cho các thừa sai và các linh mục trong giáo phận, nhất là những nơi thiếu vắng linh mục, các thầy còn phải lo đảm đương việc điều hành cộng đoàn, tiếp nhận và dạy dự tòng… Các thầy có mặt ở cácđịa phương trong giáo phận. Các thầy giúp dạy giáo lý,dạy chữ Nôm,chữQuốc ngữ, làm thông ngôn, làm việc tại Nhà in của giáo phận, quản lý tài sản Nhà chung…
Ngay từ buổi đầu công cuộc truyền giáo của giáo phận, cùng với các thừa sai, các thầy giảng đã đóng góp công sức của mình cho một giáo đoàn mới mẻ được phồn thịnh, được lớn lên. Các thầy giảng giúp cho các thừa sai hiểu được quan niệm sống, phong tục, ngôn ngữ của người dân Việt để qua đó Tin Mừng được giới thiệu, được dễ dàng đón nhận. Trong những năm vắng bóng các thừa sai, số linh mục Việt Nam còn quá ít, các thầy giảng đóng một vai trò rất lớn trong việc ổn định, củng cố giáo đoàn, giảng dạy giáo lý và truyền giáo. Cha Đắc Lộ nói về công đức của các thầy giảng ở Đàng Trong:“Điều giúp tôiđắc lựcđểvun trồng vườn nhođẹpđẽnầy và mởrộngđức tin, đó là trợlực của các thầy giảng. Thực ra sau Thiên Chúa thì chính là các thầyđã làm tất cảcông việc, trong tất cảnhững tiến triển vĩ đại ở giáo đoàn này”.[25]
Thực hiện lệnh trục xuất của Vũ Vương Nguyễn Phúc Khoát,ngày27.8.1750, tất cả thừa sai ở Đàng Trong phải xuống tàu về Ma Cao. Lúc bấy giờ, trong giáo phận chỉ còn lại 3 linh mục và 200 thầy giảng. Số thầy giảng này như là những người mẹ trong gia đình vắng bóng cha, phải làm trụ cột, phải cáng đáng hết mọi công việc từ nhỏ đến lớn để bảo vệ sự sống cho đàn con trong gia đình.
Trong những hy sinh máu đào qua các cuộc bách hại trong giáo phận, làm sao kể hết tên tuổi của các thầy. Chúng ta có thể nêu lên chứng từ tiêu biểu:
- Thầy Anrê Phú Yên được Tòa Thánh công nhận là Người chứng thứ nhất của Giáo hội Việt Nam trong dịp thầy được tuyên phong Chân phước tử đạo vào ngày 05.3.2000.
- Thầy Gioan Thanh Minh (1588-1663)[26]
Sinh năm 1588, tại làng “Thanh Minh, Bình Sơn, Quảng Ngãi”.[27] Năm 1622, lúcđược 34 tuổi,ông gia nhập Kitô giáo.Ông và bà vợcủa ôngđược một thầy giảng lớn tuổi dạy giáo lý vàđược cha Manuellô Fernandez ban bí tích Rửa Tội. Sau khi vợ ông qua đời, ông gia nhập đoàn Thầy giảng. Ông viết nhiều thi phẩm về đạo. Ông cũng là người dạy cho các thừa sai về ngôn ngữ Đàng Trong. Năm 1629, cha Fernandez ẩn trú tại nhà của ông khoảng sáu tháng để tránh lệnh trục xuất của chúa Sãi. Ông đã tuẫn đạo cùng với ba Kitô hữu khác vào ngày 02 tháng 5 năm 1663.[28]
- Trong số các thầy giảng có thầy Giuse Trinh quê Phú Cốc[29]đã cùng với cha Giuse Chung, chú Bảo, ông Hứa, ông Nam, ông Tân và ông Giáo chịu tử đạo tại Gò Chàm vào cuối năm 1860 (ngày 27 tháng 10 năm thứ 13 đời Tự Đức)[30].Ngày 13 tháng 12 năm 1918, Đức Giáo hoàng Bênêđictô XV công nhận 20 vị tử đạo của giáo phận là Tôi tớ Chúa, trong đó có Thầy.[31]
- Trong cuộc bách hại của Văn Thân năm 1885, 60 thầy giảng đã bị giết hại. 08 thầy tham gia đoàn giải cứu 900 giáo dân tại Cây Da, Phú Yên do cha Auger Đoài làm trưởng đoàn.
- Trong việc phát triển dân trí, ngoài việc truyền dạy con chữ nơi các lớp học ở các giáo xứ, các thầy giảng còn chắp bút chuyển tải những câu chuyện nuôi dưỡng, phát triển đức tin và dân sinh dân trí qua tờ báo Lời Thăm.[32]
- Trong việc quản lý tài sản nhà chung, tên các thầy giảng còn được nhắc đến như: Thầy Tờ, thầy Viễn, thầy Sáu, thầy Phân...
Quả vậy, các thầy giảng là những tông đồ giáo dân góp phần thành công không nhỏ trong công cuộc truyền giáo của giáo phận.
Lm Gioan VÕ ĐÌNH ĐỆ
[1] Lễ Phục Sinh năm 1615 là ngày 19.4.1615.
[2] DANIELLO BARTOLI, Dell’ Istoria della Compagnia di Gesù, Vol.17, Terza Parte, Libro Terzo, Torino 1825, trang 127.
[3] ROLAND JACQUES, Công cuộc truyền giáo tại Quảng Nam năm 1623 và vấn đề ngôn ngữ: Bức thư của Francisco De Pina, Định Hướng số 42, Trung Tâm Văn Hóa Nguyễn Trường Tộ, mùa Xuân 2005.
[4] DANIELLO BARTOLI, Dell’ Istoria della Compagnia di Gesù, sđd, trang 126.
[5] DANIELLO BARTOLI, sđd., Vol.18, Terza Parte, Libro Quarto, Torino 1825, trang 195.
[6] DANIELLO BARTOLI, sđd., vol. 18, terza parte, libro quarto, tr. 328.
[7] ALEXANDRE DE RHODES, Hành Trình và Truyền Giáo, Tp. HCM, 1994, trang 56.
[8] ALEXANDRE DE RHODES, Sđd, trang 120-124.
[9] ADRIEN LAUNAY, Sđd, T.I, trang 62.
[10] ADRIEN LAUNAY, Sđd, T.I, trang106.
[11] Chú thích số 1 của trang 106 vừa nêu. Thực ra số thầy giảng trong giáo phận lúc bấy giờ là 80 người, nhưng vì thận trọng nên ban tổ chức đã hủy thư mời một phần lớn các thầy giảng. Hơn nữa các thừa sai Dòng Tên và các thầy giảng thuộc quyền các ngài cũng không đến dự.
[12] ADRIEN LAUNAY, Sđd, T.I, trang 273
[13] ADRIEN LAUNAY, Sđd, T.I, trang 281-283.
[14] ADRIEN LAUNAY, sđd, T.I, trang 401. Chợ Mới ở đây có thể hiểu là toàn vùng truyền giáo Phú Yên.
[15] JEAN THIÉBAUD, Étienne Théodore Cuénot, Paris 1988, Bản dịch 1992, trang 59.
[16] Xem AMEP, Rapport annuel de Cochinchine Orientale 1898 và 1932.
[17] Xem AMEP, Rapport annuel de Cochinchine Orientale 1903.
[18] Mémorial Mission de Qui Nhơn, 6/1908, trang 9.
[19] Mémorial Mission de Qui Nhơn, 2/1908, trang 12.
[20] Mémorial Mission de Qui Nhơn, 10/1926, trang 39.
[21] Trường này nguyên là Trường La San Bình Lợi bên cạnh nhà thờ Chính Tòa. Nay là phần dưới của dãy nhà Chủng viện hướng ra đường Trần Hưng Đạo.
[22] Xem Bản Thông tin địa phận Qui Nhơn và Đà Nẵng, số 37, trang 16.
[23] ADRIEN LAUNAY, Histoire de la Mission de Cochinchine 1658-1823, Paris 2000, Tom I, p. 113-114.
[24] Công đồng Hội An được tổ chức vào ngày 19/01/1672. Ngày 15/02/1672, Đức cha rời Hội An đi về Thái lan. Trên đường về Thái Lan, Đức cha ghé lại Nước Mặn.
[25] ALEXANDRE DE RHODES, Sđd, trang 78.
[26] VÕ LONG TÊ, Lịch sử Văn học Công giáo Việt Nam, Sài Gòn 1965, trang 180-183.
[27] MANUEL FERREIRA, Noticias sumarias das perseguições da Missam da Cochinchina, Lisbõa, 1700, trang 187-288. ARSI, JS. 73, tờ 171. Trích theo Đỗ Quang Chính, SJ, Dòng Tên Trong Xã Hội Đại Việt, Antôn & Đuốc Sáng, 2006, trang 235
[28] ADRIEN LAUNAY, Histoire de la Mission de Cochinchine 1658-1823, T.III, Paris 2000, trang 510.
[29] Về địa tôn giáo, ngày nay Phú Cốc thuộc giáo xứ Tuy Hòa. Về địa hành chánh, Phú Cốc thuộc xã An Phú, Tp. Tuy Hòa.
[30] Mémorial Mission de Qui Nhơn, No. 53, 24 Mai 1909, trang 87.
[31] Mémorial Mission de Qui Nhơn, No. 148, 20 Mars 1919, trang 20-25.
[32] Báo Lời Thăm xuất bản số đầu tiên năm 1918 tại nhà in Làng Sông.

Bình luận