Linh mục Gioakim Đặng Đức Tuấn (1806-1874), người thôn Qui Thuận, tổng An Sơn, huyện Bồng Sơn, tỉnh Bình Định (nay là thôn Qui Thuận, Hoài Châu Bắc, Hoài Nhơn, Bình Định).[1] Qua nhiều tác phẩm và những bản điều trần, cha đã kết hợp nhuần nhuyễn nhân, trí, dũng Á Đông với triết lý và thần học Kitô giáo để mưu cầu hạnh phúc cho đồng bào, cho đất nước. Khi được vua Tự Đức cử làm tư vấn cho phái bộ Phan Thanh Giản và Lâm Duy Thiếp về việc nghị hòa với Pháp (1862), linh mục Đặng Đức Tuấn bày tỏ lập trường cương quyết giữ vững chủ quyền và sự nguyên vẹn lãnh thổ của Tổ quốc. Cha đã hoàn thành cuộc đời của một linh mục, một kẻ sĩ, một kho tàng văn hóa, một tình thương dân tộc vào ngày 11.6.1874 (Âm lịch), mộ phần nằm ở thôn Chánh Khoan Tây, xã Mỹ Lợi, huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định. Tuy nhiên gần đây, một số tài liệu liên quan đến linh mục được một số tác giả công bố gây nên sự hoài nghi về ngày qua đời của ngài. Bài viết này nhằm tổng hợp và xác định ngày qua đời của linh mục Gioakim Đặng Đức Tuấn đúng là ngày 11.6.1874 (Âm lịch).
I. NHỮNG TÀI LIỆU GÂY HOÀI NGHI
1. Từ một tài liệu Hán Nôm
Từ bản tóm tắt của Trung tâm Lưu trữ Quốc gia giới thiệu một tài liệu Hán Nôm thời Đồng Khánh có liên quan đến việc linh mục Đặng Đức Tuấn xin khấu trừ tiền thuế cho giáo dân Quảng Ngãi, đến sự ngộ nhận linh mục Đặng Đức Tuấn còn sống cho đến thời Đồng Khánh năm thứ 3 (1889). Để giải quyết vấn đề này, cần phải khảo sát toàn nội dung văn bản.
- Bản tóm tắt giới thiệu:

- Văn bản Hán Nôm được lưu trữ tại Trung Tâm Lưu Trữ Quốc Gia I:

BẢN PHIÊN ÂM VÀ BẢN DỊCH
(Bản phiên âm và bản dịch do nhóm dịch thuật A2Z):
1.1. Phiên âm chữ Hán
Đồng Khánh tam niên, Bát nguyệt, Thập thất nhật.
Hộ Bộ tấu.
Tư tiếp Quảng Ngãi tỉnh Thần, Lương Thành đẳng tư tự. Tiếp cơ mật viện thần phúc tự y tỉnh tư, tương linh mục Đặng Đức Tuấn bẩm khất. Chiếu giáo dân tiền lật nguyên nạp tại tỉnh chi sổ (Tiền tứ thiên, thất bách, nhị thập quan linh; lật nhị bách thất thập hộc linh). Khấu trừ bản niên thuế lệ, tồn can phát hoàn. Y tỉnh tra chi, giáo dân tiền lật tiết thứ trích cấp quân nhu hiện tồn vô kỷ kỳ dĩ nạp tiền lật chi số; ưng khấu trừ bản niên thuế lệ; lật ngũ bách tứ hộc linh, tiền nhị bách thập ngũ quan linh. Tồn can sĩ thương trữ, sảo dụ lánh hoàn. Kinh viện thần chiếu chi giáo dân, điền thổ súc vật tạc dĩ cô giá phát mãi, tịnh hứa tá canh sĩ nghĩ. Tư y dân dĩ hồi phục, y linh mục bẩm khất diệc hợp nghĩ do y tỉnh chiếu toán. Bản niên, giáo dân điền thổ chư thuế lệ khấu trừ, nhưng cứ tư tắc lật kiếm nhi tiền thặng. Ưng chiếu y giáo dân sở kiếm lật số, sức tương giá tiền chiếu khấu. Tồn thặng tiền can cấp hoàn y tỉnh, sức cứu y giáo dân súc vật phát mãi tịnh hứa tá điền thổ tiền tiết thứ dĩ nạp tại tỉnh huyện thương tiền tứ thiên thất bách nhị thập quan linh; Lật nhị bách thất thập hộc linh.
Hựu cứu chi, bản niên y giáo dân điền thuế lật ngũ bách tứ hộc linh tịnh bổ nạp thập ngũ linh, phụ nạp thập nhị học linh, cộng ưng trưng lật ngũ bách tam thập nhị hộc linh. Gián trừ hiện nạp: nhị bách thất thập hộc linh; tồn khiếm thuế lật nhị bách lục thập nhất hộc linh.
Tuân y dụ, chuẩn mỗi hộc trị tiền bát quan, thành tiền nhị thiên cửu thập nhị quan linh. Tịnh điền thuế tiền nhị bách, nhị thập ngũ quan linh; cộng nhịn thiên tam bách thập thất quan linh, tính dữ bản niên nhân đinh thuế tiền can, do các y giáo dân lục tục hồi phục, đắc can vị hữu xác định, lánh tư các y linh mục kê bẩm khấu trừ. Tồn thặng tiền can hứa y lãnh hồi tán cấp. Tự cứ y các linh mục đẳng đơn khất khấu trừ điền tô thuế tiền tịnh thuế lật, chiết nạp thành tiền cộng nhị thiên tam bách thập thất quan linh. Thượng thặng tiền nhị thiên tứ bách nhị quan linh, khất lãnh cấp y giáo dân chi độ. Tồn nhân đinh, thuế tiền hà hệ hiện tồn sinh giả. Thỉnh chiếu sổ nạp tại các xã thôn; Lý trưởng nhận lĩnh, chuyển nạp y tỉnh nghiệp. Thính y các linh mục nhận lĩnh, giá thặng tiền nhị thiên tứ bách nhị thập quan linh. Sự hoàn tồn giá nhân đinh tiền lánh do các xã, thôn thu nạp. Tư chiếu sĩ sạo các đẳng.
Nhân thần bộ phụng chiếu giá hệ, cứ tình tùy nghi nghĩ biện. Thỉnh y triếp cảm thanh tự hậu chỉ lục tuân.
Tái thần Đào Tiến kinh phụng dự duyệt, tư hiện tuân vãng Quảng Nam hải phòng công cán. Trí vô thự danh cẩn phụng biện tự.
- Thần Lê Tri phụng thảo khảo.
- Thần Lê Trinh
- Thần Nguyễn Văn Học phụ duyệt.
Nội các thần Lê Địch Cát ký.
Phụng đối chiếu đương trực, thần Nguyễn Xuân Huyền ký.
Khoa đạo thần Lê Hy ký.
(còn nữa)
1 Bài viết dùng những địa danh trong lịch sử trước ngày 01.7.2025
Lm Gioan VÕ ĐÌNH ĐỆ
Bình luận