II. PHÂN BIỆT LINH MỤC ĐẶNG ĐỨC TUẤN - CHA KHÂM, VỚI CHA KHÂM QUÊ CHỢ MỚI - QUẢNG NGÃI
Linh mục Gioakim Đặng Đức Tuấn được triều đình Tự Đức cử tham gia phái đoàn Phan Thanh Giản và Lâm Duy Thiếp (Hiệp), nghị hòa với Pháp năm 1862, do đó còn được gọi là cha Khâm (khâm sai).
Lúc bấy giờ, tại giáo phận Đông Đàng Trong cũng có một cha Khâm quê Chợ Mới, Thiên Lộc, Quảng Ngãi, được Đức cha Eugêniô Charbonnier Trí, Giám quản Tông tòa Đông Đàng Trong (1864-1878) truyền chức linh mục. Năm 1885, cha Khâm đang làm cha sở Trung Tín, Quảng Ngãi.[1] Trong lúc cha về Tòa Giám mục ở Làng Sông để tĩnh tâm,[2] ở các tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên…, phong trào “Bình Tây Sát Tả” diễn ra khá mạnh mẽ. Trước tình hình đó, Đức cha Van Camelbeke Hân lệnh cho các giáo xứ trong vùng Bình Định tập trung về bãi biển Qui Nhơn để lánh nạn. Do đó, cha Khâm không về được nhiệm sở Trung Tín của mình, cũng không ở Làng Sông, mà phải cùng với Đức cha, các cha và giáo dân tập trung về Qui Nhơn. Cha Khâm (Chợ Mới) là người đã chứng kiến cảnh tị nạn ở bờ biển Qui Nhơn.
Thi phẩm “Giáo Nạn Trong Quốc Biến” có đoạn tả về cảnh tị nạn ở Qui Nhơn:[3] “…Xuống đây số đạo cũng đông/ Đã không nhà cửa, lại không tiền tài/ Đức cha thấy việc còn dai/ Thuê tàu chở đạo, Đồng Nai đem vào/ Chở ba bốn chuyến lao xao/ Hơn ba ngàn rưỡi bạc trao hẳn hòi/ Đạo còn ở lại loi ngoi/ Giữa cát che trại, che chòi khổ thay/ Nhờ của bố thí hằng ngày/ Thảm sầu thân thể đổi thay ngậm ngùi ! …”
Theo tác giả sách “Đặng Đức Tuấn tinh hoa Công giáo ái quốc”, thi phẩm này là lập trường của một giáo dân sống sót sau những ngày khói lửa. Theo cha Phaolô Ban[4] thì tác giả của thi phẩm là cha Khâm.[5] Cha Ban không xác định đó là cha Khâm quê Chợ Mới hay cha Khâm (Đặng Đức Tuấn).
Năm 1887, phong trào “Bình Tây Sát Tả” lắng dịu nhưng tình hình ở Quảng Ngãi chưa được ổn định. Đức cha Van Camelkeke bổ nhiệm hai cha Việt Nam về Quảng Ngãi làm mục vụ. Phía Nam có cha Khâm (Chợ Mới, Quảng Ngãi) ở tại Bàu Gốc. Phía Bắc có cha Tađêô Lê Văn Triết ở tại Cù Và kiêm nhiệm Trung Tín. Vì cha Khâm (Chợ Mới) bị trùng tên với tên Khâm mà giáo dân thường gọi cha Gioakim Đặng Đức Tuấn (quê Gia Hựu), do đó cha Khâm (Chợ Mới - đang ở Bàu Gốc) đổi tên thành Tuệ, nhưng giáo dân Bàu Gốc cứ gọi cha là cha Hai (theo tục lệ dân gian miền Trung, thường gọi theo thứ bậc trong gia đình, cha là con đầu của gia đình).[6]
Thời gian đầu, cha Hai tổ chức quy tập các tín hữu bị tử nạn trong phong trào Văn Thân, táng trong khuôn viên gọi là Lăng Tử đạo tại Bàu Gốc.[7] Cha Hai xây dựng lại nhà thờ Bàu Gốc. Sau mười năm miệt mài làm việc ở Bàu Gốc, cha ngã bệnh và qua đời tại Bàu Gốc vào năm 1898.[8] Giáo dân an táng cha trong lòng nhà thờ. Hiện nay mộ cha vẫn còn tại Bàu Gốc. Còn cha Triết được bổ nhiệm phụ trách vùng Bắc Quảng Ngãi. Cha thường di chuyển làm việc giữa Trung Tín và Cù Và trong khoảng thời gian một năm. Sau đó cha được bổ nhiệm làm việc tại Quảng Nam. Cha qua đời tại Phú Thượng, Quảng Nam năm 1905.[9]
Khi hai cha Việt Nam làm việc tại Quảng Ngãi thấy tình hình ổn định, nên năm 1888, Đức cha Van Camelbeke Hân bổ nhiệm hai thừa sai đến Quảng Ngãi là cha Antoine Sudre Thọ được bổ nhiệm đến Trung Sơn (Trung Tín), và cha Jean-François Gagnaire Định được bổ nhiệm đến Cù Và. [10]
Như vậy năm 1888, Quảng Ngãi được chia làm ba địa sở do hai cha thừa sai và một cha Việt Nam phụ trách mục vụ cho 1.395 giáo dân.[11]
(còn nữa)
1 Xem. Mgr. Van Camelbecke, Rapport annuel des évêques 1885, VIETNAM, Cochinchine orientale.
2 Xem Compte-Rendu et Etat de La Mission de Quinhon, Imp. Quinhon, 1940, trang 7. Tòa Giám mục lúc bấy giờ đặt ở Làng Sông.
3 GIÁO SƯ LAM GIANG & LINH MỤC VÕ NGỌC NHÃ, Đặng Đức Tuấn tinh hoa Công giáo ái quốc, tác giả tự xuất bản, 1970, trang 533-534.
4 Cha sinh năm 1884 tại giáo họ Suối Nổ, thôn Mỹ Hội, xã Mỹ Tài, huyện Phù Mỹ cũ. Được truyền chức linh mục năm 1911, thuộc giáo phận Đông Đàng Trong (Qui Nhơn). Năm 1914, cha làm việc ở Phú Thọ (Pleiku). Năm 1932, giáo phận Kontum được thành lập (tách từ giáo phận Qui Nhơn). Từ 1932, cha thuộc linh mục đoàn Kontum. Cha qua đời năm 1945 tại Phú Thọ.
5 Xem Tạp chí “Lời Thăm”, Địa phận Qui Nhơn, 15-22 Avril 1943
6 MISSION DE QUINHON, Mémorial No.61 ngày 31.01.1910, tr.13.
Việc cha Khâm (chợ Mới) đã đổi tên là Tuệ vì có sự trùng lặp với tên gọi của vị “tiền nhân có tiếng”, sau này trong địa phận có thầy Cao, quê Sông Cát, khi thụ phong linh mục đã xin đổi tên là Luận, vì trùng tên với cha Phêrô Nguyễn Hữu Cao quê Mỹ Trang, Phù Mỹ. (Mémorial Mission de Quinhon, No.24, Juin 1923, trang 172). Việc không dùng tên trùng với người trên trước cũng như không gọi tên người trên trước mà chỉ gọi theo thứ tự người con trong gia đình là nét văn hóa tinh thần trọng trưởng trong xã hội lúc bấy giờ.
7 Trong chiến tranh, lăng này bị bình địa. Năm 1991, lăng được tái thiết với diện tích 25m2 .
8 MISSION DE QUINHON, Mémorial No. 59 ngày 30.11.1909, tr. 13.
9 TRẦN VĂN QUYẾN, Hai tấm bia ở nhà thờ Phú Thượng, huyện Hòa Vang TP Đà Nẵng, Thông báo Hán Nôm học 2009, tr.802-805.
10 GERARD MOUSSAY et BRIGITTE APPAVOU, Répertoire Des Membres De La Société Des Missions Étrangères 1659-2004, Archives des Mission Étrangère, Paris 2004, [1773] Antoine SUDRE - [1681] Jean-François GAGNAIRE
11 AMEP, Rapport annuel de Cochinchine Orientale 1888.
Lm Gioan VÕ ĐÌNH ĐỆ
Bình luận