Đi tìm tiền nhân nơi miền mây trắng

(tiếp theo)

Hơn 220 ngôi mộ có lẻ ở nghĩa trang linh mục Chí Hòa là chừng đó chân dung của những tiền nhân từng dành cả đời mình để tận hiến. Mỗi người là một câu chuyện, có người tên tuổi lưu lại ngàn đời; nhưng cũng không ít vị, sau bao nhiêu ngày tháng tận tụy với cánh đồng Giáo hội, với đoàn Dân Chúa, nay âm thầm về nằm lại chốn này, không còn ai nhắc tên, như hạt lúa mì đã thối nát cho đức tin đơm hoa. Vì vậy, khó mà gợi nhớ lại cho đủ đầy trong giới hạn của mấy kỳ báo, và bản thân cũng nhận ra điều này vượt ngoài khả năng bé nhỏ của mình. Chính vì thế, xin khép lại loạt bài sau số báo này. Xin nhấn mạnh, chỉ KHÉP mà không KẾT, bởi những nét chấm phá chúng tôi vừa thực hiện trong một nghĩa trang xưa cũ, ước mong sẽ ít nhiều mở ra thêm những chân trời lắng đọng mới, để ai đó có thể tìm thấy cho mình những suy tư giữa một miền mây trắng lãng đãng… Không phải là chợt nhớ chợt quên, mà là ghi khắc, là biết ơn… đối với tiền nhân…

Nhà thờ Hạnh Thông Tây

1. An nghỉ ở trong Đất Thánh có rất nhiều vị từng là cha sở các họ đạo lâu đời ở Sài Gòn, hoặc có những công trình nổi tiếng để lại cho bổn đạo. Chẳng hạn như trường hợp họ đạo Hạnh Thông Tây, nơi có ngôi thánh đường xây theo kiến trúc thời Phục Hưng, với phong cách Byzantine mái vòm, được đánh giá là đẹp nhất nhì Sài Gòn. Ở nghĩa trang Chí Hòa, chúng tôi tìm thấy tên của bốn linh mục từng coi sóc họ đạo cổ kính này, trong đó có cha là người đứng ra kêu gọi, tổ chức xây dựng nên ngôi giáo đường nổi tiếng đến hôm nay: cha Matthêu Hồ Tấn Đức.

Cha Matthêu Đức sinh năm 1865, mất năm 1941, là cha sở thứ ba của họ đạo Hạnh Thông Tây. Lúc sinh thời, cha được ví như “cha sở họ ARS” của Việt Nam. Ngài gắn bó với Hạnh Thông Tây từ năm 1912-1939, là người kết nối với ông Denis Lê Phát An để xin tài trợ kinh phí xây ngôi nhà thờ mà ngày nay chúng ta nhìn thấy. Xin mở ngoặc nói thêm về ông Lê Phát An: Đây là một nhà tư bản giàu có và thiện tâm, người Công giáo. Ông là con trai của ông Lê Phát Đạt, tức ông Huyện Sĩ (người giúp tiền xây nhà thờ Chợ Đũi và nhà thờ Chí Hòa, cũng chính là chủ xưa của khu đất mà giờ là nghĩa trang linh mục - tu sĩ Chí Hòa - NV). Ông Lê Phát An có người chị ruột tên Lê Thị Bình, là mẹ của Nam Phương Hoàng Hậu, nên nhà thờ về sau hay được gọi là nhà thờ do cậu hoàng hậu dâng cúng. Vì có đồn điền cao su và những khu phố cho thuê ở Gò Vấp nên ông Lê Phát An vẫn thường về nghỉ tại tư dinh riêng trong vùng (tư dinh về sau được hiến cho chính quyền thời Pháp dùng làm trụ sở hành chánh, ngày nay là khuôn viên UBND quận Gò Vấp - NV), và hay đi lễ ở nhà thờ Hạnh Thông Tây - lúc bấy giờ còn là một căn nhà tôn xập xệ, nằm trên khu đất rộng hơn 2 hecta mà một giáo dân trong vùng tặng (ông biện Chua, hiện con cháu của ông Chua vẫn còn sinh sống tại đây - NV).

Mộ ông bà Lê Phát An trong nhà thờ Hạnh Thông Tây

Lịch sử và các câu chuyện truyền khẩu ở Hạnh Thông Tây ghi nhận: Cha Matthêu Đức là một người rất được giáo dân yêu quý bởi sự nhân đức và thông thái. Việc xây nhà thờ bắt nguồn từ lời khẩn cầu liên lỉ của ngài với thánh Giuse. Và phép lạ đã đến, trong một lần về Gò Vấp và đi lễ, nghe được những ước nguyện của cha và bà con giáo dân, ông Denis Lê Phát An đã ngỏ lời xin giúp xây cất ngôi thánh đường mới, với duy nhất một thỉnh nguyện là xin cho hai vợ chồng ông - vốn không có con - được an táng trong nhà thờ sau khi qua đời. Ngày nay, có thể nhìn thấy bên trong nhà thờ Hạnh Thông Tây có hai ngôi mộ của một đôi vợ chồng, trước mỗi mộ bia đều có tạc một pho tượng bằng đá cẩm thạch Ý, với tư thế hết sức độc đáo, tuyệt đẹp, và có lẽ là độc nhất vô nhị ở Việt Nam… Tượng ông mặc đồ Việt, đội khăn đóng quỳ chắp tay cầu nguyện bên mộ bà; tượng bà mặc áo dài, tay ôm cành huệ trắng, quỳ ôm vòng lấy mộ ông; cả hai tượng đều khắc họa gương mặt thật của hai vợ chồng và làm bằng đúng kích thước thật của từng người. Nhà thờ được khởi công từ năm 1921, đến năm 1924 thì hoàn thành, do kiến trúc sư Baader người Pháp thiết kế, mô phỏng theo hình ảnh Vương cung Thánh đường thánh Vitale ở thành phố Ravenna bên Ý.

Trở lại với các mục tử từng phục vụ ở họ đạo Hạnh Thông Tây đang an nghỉ ở Đất Thánh Chí Hòa. Như đã kể ở đầu bài, chúng tôi đếm được có 4 vị. Vị kế nhiệm cha Đức làm cha sở Hạnh Thông Tây là cha G.B Nguyễn Tứ Quý (1868-1944). Khi đến Hạnh Thông Tây vào 1939, cha Quý đã lớn tuổi, sức khỏe kém. Dầu vậy, trong 5 năm coi sóc họ đạo, cha rất được mến mộ. Cha thích hoạt động, ưa tổ chức những cuộc rước kiệu vốn ít thấy ở các họ đạo Nam bộ. Tuổi cao nhưng cha khá tháo vát, các cụtrong họ đạo nói cha mẹ họ kể rằng cha thiệt đa tài, biết làm thợ mộc, thợ hồ, tự tay sửa sang, xây cất trong ngoài.

Tiếp theo cha Quýlà cha Phaolô Nguyễn Thông Lý (1885-1966). Cha Lý ở xứ Hạnh Thông Tây tất cả 15 năm (1944-1959), vào thời đoạn nhiều sự kiện của xã hội xảy ra. Năm 1946, ông Lê Phát An từ trần, cha lo liệu cho ông an nghỉ trong hầm mộ nằm bên cánh gà nhà thờ, như ước nguyện ngày trước của ông. Cha còn cất trường học, tổ chức Nhà Chung quy củ, là người có công xin Nhà Đèn kéo hệ thống điện về cho dân vùng Gò Vấp.

Cuối cùng là một linh mục chỉ làm cha sở họ đạo Hạnh Thông Tây thời gian ngắn, cũng được an táng ở Chí Hòa, là cha Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Tam (1918-1975). Cha Tam phụ trách họ đạo cổ này trong một năm, từ 1974-1975; trước đó ngài là cha sở họ đạo Chí Hòa. Vừa về Hạnh Thông Tây không bao lâu, cha phát bịnh nặng và sức khỏe yếu dần. Nhưng cho đến bây giờ, nhiều giáo dân Hạnh Thông Tây vẫn không quên hình ảnh vị mục tử lúc đầu là chống gậy, sau chống 1 nạng, sau nữa là 2 nạng, miệt mài hằng ngày dâng 2 lễ sáng chiều cho con chiên. Cha tận tuỵ và phục vụ cho đến phút cuối đời, sau chỉ một năm gắn bó họ đạo.

2. Kể về ông Lê Phát An và Nam Phương Hoàng Hậu, chúng tôi chợt nhớcách đây ít lâu, có một tác giả phát hiện ra quê hương Gò Công của hoàng hậu không phải là Gò Công của Tiền Giang, mà là một địa danh của vùng Thủ Đức cũ, nay thuộc quận 9, TPHCM. Xin dừng lại nơi mộ phần linh mục Phêrô Nguyễn Linh Dược (1848-1914) trong nghĩa trang Chí Hòa, với vài dòng tiểu sử cũng như một số hoạt động mục vụ khi xưa của ngài, như một sự gợi ý thêm về nguyên quán của cựu hoàng hậu. Tại sao ?

Kỷ yếu 150 năm thành lập họ đạo Xóm Chiếu (2006) có phần ghi: “Họ đạo Xóm Chiếu được thành lập năm 1856. Linh mục Phêrô Nguyễn Linh Dược đảm nhận trách nhiệm cha sở trong 29 năm (1885-1914), là một nhân vật quan trọng trong lịch sử của họ đạo. Cha sinh năm 1848, trong một gia đình đạo đức ở Thủ Đức, cha mẹ là những tín hữu hiền hậu, chất phác. Ngài được Đức cha Colombert truyền chức linh mục năm 1876. Từ 1876 đến 1882, làm giáo sư Tiểu Chủng viện rồi làm thư ký Tòa Giám mục và cha sở Phú Hiệp. Từ năm 1885, lúc 37 tuổi, cha Dược về làm cha sở Xóm Chiếu, kiêm luôn hai họ Khánh Hội và Tắc Rỗi. […]. Năm 1914, cha Phêrô Dược được 66 tuổi, đến tuổi về hưu, Đức cha Lucien Mossard, Giám mục địa phận Sài Gòn, bổ nhiệm cha André Nguyễn Phương Đoài tiếp tục công việc của cha Phêrô Dược trông coi Giáo xứ Xóm Chiếu”.

Trong gia phả của dòng họ thánh Matthêu Lê Văn Gẫm mà con cháu ở vùng Gò Công (quận 9 cũ, nay là TP Thủ Đức) đang cất giữ cho biết, mẹ thánh Gẫm là bà Nguyễn Thị Nhiệm, chị ruột của bà Tám, cùng sống tại khu vực họ đạo Gò Công cũ, nay là họ đạo Thánh Gẫm - Thủ Đức. Bà Tám có người con trai tên Nguyễn Văn Cường. Ông Cường kết hôn với bà Lê Thị Thương, sinh ra 7 người con, trong đó có người con đầu tu dòng thánh Phaolô Sài Gòn; người thứ 5 là cha Dược - sinh năm 1848; người thứ 6 là nữ tu Maria Nguyễn Thị Gương, có thời gian làm bề trên dòng MTG Chợ Quán; người con út là ông Nguyễn Hữu Hào, sinh năm 1866 (con thứ 7 nhưng gọi theo cách miền Nam, con cả gọi là anh Hai, nên ông Hào hay được gọi là Tám Hào). Ông Hào có 2 người con gái, người con gái đầu sinh năm 1903; Nam Phương Hoàng Hậu là em kế, sinh 1913. Như vậy, cha Dược chính là bác ruột của Nam Phương Hoàng Hậu. Quả là bất ngờ nối tiếp bất ngờ, khi trong quá trình tìm về, sưu tra thân thế và những cống hiến của những mục tử đang nằm trong nghĩa trang xưa này, chúng tôi đã xâu chuỗi được những mối liên hệ kỳ lạ. Dẫu gia thế là vậy, sự nổi tiếng cũng không nhỏ, nhưng hơn 100 năm qua, mộ phần của cha vẫn khiêm tốn, nằm lặng lẽ nơi này…

Gia phả dòng họ thánh Gẫm, cha Dược gọi thánh Gẫm là bác họ

3. Còn rất nhiều những linh mục thời danh, có công với địa phận Tây Đàng Trong xưa và Sài Gòn về sau, đang nằm trong nghĩa trang linh mục giữa lòng thành phố. Đó là cha Đaminh Mai Ngọc Khuê (1910-1969), chánh xứ tiên khởi giáo xứ Tân Sa Châu (Sài Gòn); cha Giuse Đỗ Trọng Kim (1899-1973), chánh xứ tiên khởi giáo xứ Tân Hòa (Sài Gòn); hay cha Gioakim Nguyễn Đức Oánh (1930-1978), chánh xứ tiên khởi xứ Kim Mai (Ban Mê Thuột); cha Giuse Trần Đình Lữ (1902-1960), người đã cùng gần 1000 giáo dân quê gốc Nghệ An đến phía Namđảo Phú Quốc năm 1957, hình thành một xứ đạo mới, là tiền thân xứ An Thới ngày nay. Đặc biệt, chúng tôi cũng không quên đến thắp hương kính viếng chaGioakim Nguyễn Bá Luật (1903-1951), nguyên cha sở họ đạo Chợ Đũi. Sinh thời, cha là người trung thành với ơn gọi tận hiến, đã sống yêu thương giáo dân, nhiệt thành phục vụ đất nước và con người, có sự chọn lựa loan báo Tin Mừng theo cách của mình là vào chiến khu phục vụ những người Công giáo. Hiện nay, tên của ngài được đặt cho một con đường tại phường Bình Thọ, thành phố Thủ Ðức.

Lui tới nhiều ngày ở Đất Thánh Chí Hòa, rồi về có khi mất vài hôm để lục tìm hồ sơ của một vị mục tử, chúng tôi không ngoài ước muốn có thể kể thêm ít nhiều về các linh mục tài hoa, về những tấm lòng tận tụy từng cống hiến cho sự phát triển đời sống văn hóa Việt Nam, cho sự thăng tiến của Giáo hội và ích lợi cho giáo dân miền Nam… Đôi lúc cũng có chút tiếc nuối, vì rằng thời gian đã vô tình xóa đi nhiều đầu mối thông tin, nên bên cạnh những chân dung đã phác thảo, vẫn còn rất nhiều vị có lẽ đã như áng mây trắng trôi xa về nơi nào.

Mộ phần cha Dược giản dị trong nghĩa trang linh mục

Tìm về tiền nhân trong nghĩa trang hiu quạnh, chúng tôi như đang thực hiện mộthành trình đi ngược để lục lại những câu chuyện xưa cũ, mở ra những mới mẻ từ cuộc sống và gương mẫu của những người đã vãng. Phía sau lớp trầm tích phủ bụi thời gian còn bao điều chưa kể, và không chỉ trong một nghĩa trang Chí Hòa. Chắc chắn chúng tôi sẽ trở lại với đề tài này, với những linh mục danh tiếng khác đang gởi thân xác ở nhiều nơi, như linh mục Thanh Lãng - nhà nghiên cứu nổi tiếng với Bảng lược đồ văn học Việt Nam mà nhiều nước mơ ước quốc gia mình cũng có người thống kê như vậy; linh mục Đỗ Quang Chính - dòng Tên - với cuốn Lịch sử chữ Quốc ngữ được các học giả đánh giá cao; như linh mục Bùi Đức Sinh - dòng Đaminh - với khảo cứu Lịch sử Giáo hội Công giáo; linh mục Nguyễn Văn Lập - nguyên Viện trưởng Viện Đại học Đà Lạt, là thầy của không ít các giám mục và linh mục; rồi các linh mục Mai Văn Hùng, Nguyễn Huy Lịch, Thiện Cẩm… với bao nhiêu là tư tưởng, trước tác… Xin tạm khép lại bài viết này bằng lời nhắn nhủ của nhà thơ Công giáo Lê Đình Bảng, sau khi biết chúng tôi đang thực hiện loạt ký sự về những linh mục nổi tiếng một thời đã đi xa: “Đó là một việc nên làm nhằm nhắc nhớ hậu thế, cũng như để bổ sung vào kho tàng lịch sử phong phú trong quá trình phát triển của Giáo hội địa phương. Đừng để ký ức phai mờ, dù bia mộ có thể mờ phai…”.

Minh Hải

Chia sẻ:

Bình luận

có thể bạn quan tâm

Giáo xứ Minh Đức tổ chức hiến máu nhân đạo
Giáo xứ Minh Đức tổ chức hiến máu nhân đạo
Sáng 24.10.2026, chương trình hiến máu nhân đạo “Chia sẻ vì sự sống” lần thứ V đã diễn ra tại giáo xứ Minh Đức, TGP TPHCM, thu hút đông đảo người dân tham gia, góp phần bổ sung nguồn máu phục vụ công tác điều trị cho các bệnh nhân.
Nhớ cha Piô
Nhớ cha Piô
Sáng Chúa nhật Khánh Nhật Truyền Giáo năm 2026, tôi bất ngờ nhận tin cha Piô Ngô Phúc Hậu (1936-2026) đã về với Chúa.
Cha Piô Hậu và những điều chưa biết
Cha Piô Hậu và những điều chưa biết
“Ông cha nhà quê” là cách xưng hô mà cha Piô Ngô Phúc Hậu vẫn hay dùng để chỉ bản thân, trong những buổi trò chuyện thân mật lẫn những lần thuyết giảng chính thức.
Giáo xứ Minh Đức tổ chức hiến máu nhân đạo
Giáo xứ Minh Đức tổ chức hiến máu nhân đạo
Sáng 24.10.2026, chương trình hiến máu nhân đạo “Chia sẻ vì sự sống” lần thứ V đã diễn ra tại giáo xứ Minh Đức, TGP TPHCM, thu hút đông đảo người dân tham gia, góp phần bổ sung nguồn máu phục vụ công tác điều trị cho các bệnh nhân.
Nhớ cha Piô
Nhớ cha Piô
Sáng Chúa nhật Khánh Nhật Truyền Giáo năm 2026, tôi bất ngờ nhận tin cha Piô Ngô Phúc Hậu (1936-2026) đã về với Chúa.
Cha Piô Hậu và những điều chưa biết
Cha Piô Hậu và những điều chưa biết
“Ông cha nhà quê” là cách xưng hô mà cha Piô Ngô Phúc Hậu vẫn hay dùng để chỉ bản thân, trong những buổi trò chuyện thân mật lẫn những lần thuyết giảng chính thức.
Trọn đời vì sứ vụ truyền giáo
Trọn đời vì sứ vụ truyền giáo
Linh mục Piô Ngô Phúc Hậu đã được Chúa gọi về lúc 20 giờ 30 ngày 17.10.2026 tại Phú Thọ, hưởng thọ 90 tuổi, sau hơn 62 năm phục vụ trong thiên chức linh mục.
Nhớ về linh mục Piô Ngô Phúc Hậu
Nhớ về linh mục Piô Ngô Phúc Hậu
Sáng ngày 17.10.2026, tôi có dịp ghé thăm cha Piô Ngô Phúc Hậu nằm tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Phú Thọ từ ba tuần qua. Các bác sĩ đã tận tình chăm sóc nhưng vì tuổi cao nên sức yếu dần.
Nhớ mãi một công thức của ông cố Hậu
Nhớ mãi một công thức của ông cố Hậu
Cách đây 7 năm, lúc vừa xong kỳ thi tốt nghiệp cấp 3, tôi hí hửng xách giỏ, bắt xe đò đi xuống Rau Dừa, Cái Nước, Cà Mau. Đợt đó tôi chủ yếu đi theo mấy dì phước, phụ dạy học lớp tình thương mùa hè.
Một cách truyền giáo bằng chuyện kể độc đáo
Một cách truyền giáo bằng chuyện kể độc đáo
Báo Công giáo và Dân tộc đã được cha Piô Ngô Phúc Hậu gởi bài cộng tác từ rất sớm. Cha cũng cho phép tòa soạn đăng tải, sử dụng các tác phẩm của mình với mục đích cuối cùng không gì khác hơn là “để lời Chúa được loan...
Những “trái mắm” còn mãi giữa dòng đời
Những “trái mắm” còn mãi giữa dòng đời
Ký ức đưa tôi trở về năm 1999, lúc còn là một cậu bé mười mấy tuổi, thường ghé chơi nhà bác dịp cuối tuần. Bác tôi là nhân viên bưu cục phụ trách chuyển phát báo chí.
Lắng nghe từ một câu chuyện ở Cái Rắn
Lắng nghe từ một câu chuyện ở Cái Rắn
Có những lúc người này, đoàn thể nọ giúp người nghèo với tất cả thiện chí, nhưng điều mình nghĩ là cần thiết chưa chắc đã là điều bà con mong muốn nhất.