Ký ức đưa tôi trở về năm 1999, lúc còn là một cậu bé mười mấy tuổi, thường ghé chơi nhà bác dịp cuối tuần. Bác tôi là nhân viên bưu cục phụ trách chuyển phát báo chí. Những ngày thứ Sáu, bác luôn bận rộn giữa các số báo Công giáo và Dân tộc còn thơm mùi mực mới. Tôi thường được đọc “ké” báo của bác, và đặc biệt ấn tượng với nhiều câu chuyện trong tập tùy bút Nhật ký truyền giáo của cha Piô Ngô Phúc Hậu. Trong đó, bài “Nước Trời giống như trái mắm” đã đọng lại trong tâm trí tôi như một mỏ neo của con tàu lớn.

Khác hẳn với những bài giảng lễ khô khan, từng con chữ của cha mang nét gần gũi, ấm áp và đượm hơi thở sông nước miền Tây Nam Bộ. Tác giả dẫn dắt người đọc qua từng mốc thời gian và không gian miệt vườn, từ bến sông Bọng cô đơn năm 1975 đến vùng Cái Rắn hay Mũi Cà Mau nơi cuối trời Tổ quốc. Cái hay nhất là người viết không dùng những khái niệm thần học xa rời, mà đan dệt câu chuyện bằng vô vàn chất liệu dân dã, như con ba khía trú nhà cầu, tiếng rao chuối chiên nơi xa cảng Miền Tây, chiếc vỏ lãi tốc hành xé nước, hay dáng vẻ con thòi lòi láo xược trên kênh rạch.
Trong không gian ấy, chi tiết những “trái mắm trái mùa rơi lõm chõm xuống dòng sông, trôi lều bều như rác rến” rồi dạt vào ô rô, cóc kèn đã lay động tâm khảm tôi. Cây mắm - loài cây tạp bị người đời chê củi dai, ván dơ - lại có dàn rễ thở âm thầm nhô lên khỏi bùn lầy để chống xói mòn, giữ đất phù sa và mở rộng dải đất ra khơi, trở thành một biểu tượng nghệ thuật độc đáo. Tôi liên tưởng “trái mắm” với “hạt cải” trong Tin Mừng. Nếu hạt cải biểu trưng cho sự phát triển hoành tráng, từ mầm sống nhỏ bé vươn mình thành cây lớn cho chim trời làm tổ, thì trái mắm lại chạm đến một chiều kích khác của Nước Trời. Đó là sự khiêm hạ, dấn thân và phó thác. Nước Trời được ví von như trái mắm trôi dạt, chịu va đập giữa dòng triều lưu để bám rễ vào những vùng đất khắc nghiệt.
Hình ảnh ấy gợi nhớ sinh động đến hành trình lữ hành của thánh Phêrô bồng bềnh qua ngục thất, nhịp chân dấn thân của các nữ tu Vinh Sơn tại Năm Căn giữa thời chiến tranh bom đạn, và chính cuộc đời lữ hành của người mục tử gốc phương Bắc phục vụ nơi miền cực Nam đất nước. Có lúc, người đọc bắt gặp nỗi buồn da diết với cảnh một người gác chân lên gốc mắm, lặng nhìn trời mây vô tận. Cứ ngỡ mạch văn sẽ mãi trôi trong miền hoài niệm ấy, vậy mà chỉ thoáng chốc, câu chuyện lại khiến người ta bật cười bởi cuộc tranh luận tếu táo về “rễ mắm” với “Ban biên tập Từ điển”, hay lời ra lệnh hóm hỉnh dành cho các “con gái thánh Vinh Sơn” đi tham quan Mũi Cà Mau. Cứ thế, giữa những khoảng lặng man mác buồn và câu chuyện hóm hỉnh đời thường, tác giả dẫn người đọc đi qua từng trang tùy bút, để rồi nhận ra đạo và đời, triết lý và tiếng cười vẫn có thể hòa quyện tự nhiên, dân dã đến nhường nào.
Khép lại trang viết, dư âm đọng lại không chỉ là những góc nhìn thú vị đủ sức giữ lại trong lòng cậu bé thích đọc báo đạo ngày ấy. Dĩ nhiên, tập sách của cha còn cả hàng trăm, hàng ngàn dòng suy tư khác, nhưng ngay lúc này đây tôi cứ nghĩ mãi về “trái mắm”. Giờ đây, vị mục tử dành nhiều năm đi giữa rừng mắm, sống với những triết lý về trái mắm mà tôi yêu mến đã khép lại hành trình cõi trần. Trang viết của cha không còn đơn thuần là kỷ niệm tuổi thơ, mà đã trở thành bài học về lòng xả thân, sự hy sinh âm thầm, và tinh thần phó thác giữa những chìm nổi cuộc đời.
Hoàng Quân, Đồng Nai
Bình luận