“Ông cha nhà quê” là cách xưng hô mà cha Piô Ngô Phúc Hậu vẫn hay dùng để chỉ bản thân, trong những buổi trò chuyện thân mật lẫn những lần thuyết giảng chính thức. Câu cửa miệng của cha luôn là “với kinh nghiệm của một ông cha nhà quê như tôi thì chuyện đó nhỏ xíu à, mình nên làm vầy vầy…”, hoặc “nhờ cậu làm giúp việc này cho ông cha nhà quê nhé!”, hay khoát tay khi ai đó chào khen “tôi có nổi tiếng gì đâu, ông cha nhà quê mà!”. Đó là bởi ngài khiêm hạ, còn với nhiều người Công giáo, bóng ngài lớn như cây mắm cổ thụ miền phèn ngập U Minh, che mát và giữ dòng chảy cho bao thế hệ đi qua dòng sông, trổ về nẻo thiện, tìm gặp đức tin… Tôi dám mạnh dạn đoán, trong tổng số các linh mục và tu sĩ ở Việt Nam hiện nay, ít là phải hơn một nửa biết đến cái tên Piô Ngô Phúc Hậu; từng nghe, từng gặp hay đọc qua những tác phẩm, hay là học trò đã thụ giáo cha ở chủng viện, tại các buổi ngoại khóa, thỉnh giảng… Còn với giáo dân, những ai có quan tâm đến đời sống Giáo hội hoặc văn chương Công giáo, chắc đều quen thuộc với tên tuổi của nhà truyền giáo âm thầm mà lay động được nhiều tâm hồn này.

Tôi bắt đầu làm báo khoảng giữa năm 1994. Ngày đó, một trong những lý do tôi quyết định bỏ công việc đang được bạn bè coi là “quá tốt” để thi vô báo Công giáo và Dân tộc, là bởi từng say mê đọc Hương Rừng Cà Mau của Sơn Nam, với bối cảnh lấy từ người dân vùng khẩn hoang; và thích những bài Nhật ký truyền giáo của cha Piô Ngô Phúc Hậu đăng nhiều kỳ trên CGvDT từ đầu năm 1993, rồi ước mơ một ngày mình được ngang dọc miền U Minh - Năm Căn, đi và ngắm nhìn, chứng kiến, quan sát cuộc sống của người dân miệt tận cùng Việt Nam. Bởi vậy nên khi được tòa soạn nhận vào làm phóng viên chính thức, tôi thường xin đi Cà Mau viết bài.
Thời bấy giờ phương tiện đi lại rất khó khăn, buổi chiều phải đón xe đò ra xa cảng Miền Tây, mua vé về Cà Mau, ngồi xe cả đêm dập dìu dằn xóc, đặng sáng tới nơi kịp chuyến đò dọc vô Cái Rắn, nơi cha Hậu làm cha sở. Những ngày sau đó, tùy lịch đi lại của cha mà xin đi theo, khi thì đi đò khách về Xóm Mũi, lúc quá giang vỏ lãi vô những vùng đất mới khai hoang để thăm dân. Những năm giữa thập niên 90, người từ miền Bắc vô lập nghiệp ở các huyện ven rừng U Minh khá đông, các cha vùng Cà Mau ngược xuôi lo cho họ suốt ngày trong tuần, nên vỏ lãi chạy trong các con rạch hay gặp cha này cha khác vẫy chào, đôi lúc còn rủ nhau ghé nhà dân hùn ký tép bạc đem theo, xào lên ăn cơm trưa.
Cha Đa Minh Nguyễn Đức Mười (nay đang ở nhà hưu GP Cần Thơ - NV) cũng là một trong những linh mục năng nổ truyền giáo, phát triển giáo điểm trong miền này. Cha Hậu đã đưa tôi đến thăm rất nhiều giáo điểm cha Mười đã lập hoặc đang hình thành, có chỗ chỉ mới là một vuông tôm mới mua, dâng lễ trong nhà dân; có nơi đã có nền, cất được căn nhà lá làm nhà nguyện; những cái tên Kinh Ba, Kinh Nước Lên, Đất Mới… ngày nay đã là giáo xứ, nhưng là địa danh tôi thuộc nằm lòng từ thuở mới khai phá. Các cha trong vùng lúc đó hình như có ngầm phân công trách vụ, cha Hậu giữ rường mối sống đạo cho dân, chăm lo đời sống tinh thần lẫn phương thế sống để thoát nghèo, lấy giáo dục và nhân bản làm bộ khung, trên nền tảng Phúc Âm được quy chiếu ở mọi hoạt động; cha Mười phát triển các giáo đoàn, gầy dựng giáo điểm - giáo họ, lo cho người cùi, học sinh nội trú; cha Vinh Sơn Trần Văn Thục (đã qua đời năm 2022) làm kinh tế, nuôi tôm trồng rừng, hỗ trợ cho các chương trình chung; cha Giuse Lê Hiến (đã qua đời năm 2020), cha Phaolô Nguyễn Văn Vinh (hiện là cha sở họ đạo Tòa Giám mục Cần Thơ) ở gần trung tâm thị xã hơn thì lo giấy tờ, tiếp sức với các cha trong vùng sâu về nhân lực, liên lạc các nhà dòng xin cho tu sĩ về những nơi mới hình thành hay còn nghèo lập cộng đoàn, dạy giáo lý, xóa mù chữ… Chính vì vậy mà mỗi chuyến về Cà Mau, tôi được cha Hậu đưa đi khắp miền, tha hồ thỏa chí viết lách, và lớn hơn hết là được học ở các ngài cách sống cho đi, cảm kích trước sự vất vả và hy sinh của những nhà đi vun trồng đức tin…
Lại nói về cha Piô Hậu. Đây đích thực là một nhà truyền giáo theo tinh thần Kitô giáo như từ buổi sơ khai của Giáo hội: sống trong dân, hiểu dân và đặt mình là một thành tố thuộc cộng đồng tại chỗ. Cha Hậu dạy dỗ đơn sơ mà ai cũng thấm, trò chuyện khề khà nhưng dân phục, kể chuyện tếu lâm luôn ngầm chuyển theo những thông điệp về lối sống, cách ứng xử, và cả phương thế xử lý tình huống… Tôi có vài lần được dự các lớp giáo lý của cha - khi thì cho người lớn, lúc lại là lớp trẻ con - đều có chung một cách là diễn tả ý chính bằng những ví dụ thực tế, qua “thằng Tí thằng Tèo”, “bà Năm cô Bảy”, khiến người nghe dễ hiểu, dễ nhớ. Cha luôn dùng phấn viết nội dung lên bảng đen, cắt nghĩa rằng “đọc cho chép có khi về họ không coi lại, nếu phải trả bài thì nhiều lắm là trước khi đi học đem ra học thuộc, không tư duy gì nhiều; mình chịu cực một chút ghi lên bảng, suốt giờ học mấy đứa chỉ ngẩng lên là lại nhìn thấy, sẽ nhập tâm luôn…”. Thiệt là một cách nghĩ, một phương pháp không phải mới, nhưng dường như ngày càng có nhiều người cố tình bỏ đi, nhân danh sự tiện lợi… Cấp học bổng cho trẻ con cũng vậy, tiêu chí của cha là “đứa nào chịu học thì nói, cha mua quần áo, sách vở cho đi học…”. Cha giải thích: “Nhiều nơi cứ đưa ra tiêu chí được học bổng là ngoan - nghèo - giỏi. Theo mình là không thể và hiếm gặp lắm. Đã nghèo suốt ngày phụ cha mẹ kiếm ăn thì khó mà học giỏi. Còn đòi “ngoan” thì chẳng lý mình bỏ rơi những đứa “chưa ngoan” sao, tình thương đâu? Cứ giúp cho nó chịu đi học là tốt rồi, từ từ tính sau. Chưa ngoan đi học được thầy cô dạy dỗ, về mình dạy thêm rồi sẽ ngoan. Chưa giỏi thì cho nó điều kiện đi học, đỡ cho nó bớt gánh mưu sinh mà tập trung học, rồi sẽ giỏi”. Cứ như vậy, triết lý giáo dục của cha đơn sơ mà hiệu quả, đi vào lòng người, và đó có lẽ là lý do dân ở những nơi cha từng làm mục vụ hay đi qua ngắn ngày đều yêu mến ngài; và trong đời mục vụ của mình, cha đã đưa không biết bao nhiêu đứa trẻ từ bỏ học sớm về sau thành tài nhờ tri thức.
Còn nhớ một lần tôi về họ đạo Cái Rắn ngay buổi chiều có trận đá banh giữa Việt Nam và một đội nào đó, trong cúp vô địch Đông Nam Á năm 1996. Vì vùng này lúc đó chưa có điện, nhà thờ chỉ chạy “máy đèn” vào giờ lễ, trong nhà xứ cũng không có tivi, nên tôi xin phép ngài đi ra quán nước coi trực tiếp đá banh, người ta dùng bình ắc-quy. Không ngờ cha nói “mình cũng muốn coi, cậu cho mình đi với”. Ra quán, thấy cha lấy một cái ghế ngồi tuốt phía sau, mời lên phía trên thì ngài khoát tay ra hiệu không cần. Đường về, cha rỉ tai rất bất ngờ: “Thú thật với cậu, mình không thích và cũng không biết coi đá banh, nhưng lại thích ngồi quan sát… người coi đá banh. Cậu sẽ thấy cách họ bày tỏ niềm hạnh phúc hay sự thất vọng, sẽ thấy cách họ vung tay, uốn người trước một pha bóng nguy hiểm, và cả những tiếng la, tiếng reo hò… Đây là cơ hội biết được cá tính của mỗi người, điềm đạm hay nóng nảy, chấp nhận hay cay cú… Là mục tử, khi biết được ít nhiều tính cách của giáo dân, sẽ có cách ứng xử phù hợp. Chưa kể ra quán coi tivi, uống ly trà đường như mọi người, mình sẽ gần gũi với bà con”. Trời ơi, một quan niệm và cách mục vụ lần đầu tiên tôi nghe từ một linh mục, nhưng lại thuyết phục và dễ làm quá chừng.
Hồi cha viết còn sung sức, tuần nào tòa soạn cũng nhận được một phong bì gởi chuyển phát nhanh của cha Hậu, bên trong là bài viết trên tờ giấy đôi của vở học trò, viết theo chiều dọc của cặp giấy và chữ rất to. Khi có dịp, mình vô tình chọc: “Ông cố viết hao giấy quá sức!”, cha kể một chi tiết mà không phải ai từng đọc các tác phẩm của ngài đều có thể hình dung về sự hình thành những con chữ của một cây bút nổi tiếng: “Vì Cái Rắn của mình chưa có điện, nên mình viết bằng đèn pin trong mùng. Tối 7 giờ đi ngủ, 1-2 giờ sáng dậy đọc kinh rồi bật đèn pin lên ngồi hoặc đau lưng thì nằm viết. Một cuốn vở 96 trang lấy được 24 cặp giấy, viết được ít là 12 bài; hai cục pin đại xài được một tuần, trừ sáng Chúa nhật không viết, coi như cho ánh sáng viết được 6 bài. Do viết bằng đèn pin, lại không ngồi bàn nên chữ phải to vậy đó mới nhìn thấy. Lúc viết cũng có thêm động lực là… sợ hết pin, nên không để phí thời gian chết…”. Tôi thật sự kính trọng một vị linh mục cao niên vẫn miệt mài truyền tải kinh nghiệm sống, kinh nghiệm truyền giáo qua từng trang sách, trong điều kiện khó khăn như vậy. Ngài tiết kiệm với bản thân (vì hoàn toàn có thể mở máy phát điện để ngồi vào bàn làm việc), nhưng hào sảng với dân - nhất là dân nghèo, luôn mở lòng và tinh tế với tất cả mọi người. Những chi tiết nhỏ tôi từng chứng kiến như đang đi trên rạch cha nhờ tài công lái vỏ lãi tấp vô một cái chòi, bước lên gởi cho bà cụ hôm trước ghé thăm chai dầu xanh ai đó cho cha để bà “phòng trúng gió hay cảm lạnh”, hoặc tranh thủ sau buổi ăn trưa trong hành trình “đến với dân”, chạy qua nhà hàng xóm gần bên đưa bọc nilông đựng bộ quần áo trẻ con ngài chuẩn bị sẵn, nói “cho thằng nhỏ, hôm trước đi lễ mình thấy nó mặc áo cũ quá!”… đã nói lên điều đó.
*
Cha Piô Ngô Phúc Hậu đã đi xa, nhưng chúng ta - những người ở lại - sẽ còn nhớ đến ngài dài lâu, học từ nhân cách của ngài không ít điều. Trong lịch sử truyền giáo 100 năm gần đây của Giáo hội Công giáo tại Việt Năm, có lẽ khi nhắc đến những linh mục thường xuyên điền dã trong dân, giúp họ nhận ra những điều tốt đẹp của cuộc sống; tìm và học để hiểu về con người - vùng đất, từ đó gạn lọc, đưa Tin Mừng vào đời thực hay làm thăng hoa các giá trị…, nếu ở miền Trung có cố Cả Léopold Michel Cadière, thì ở miền Nam phải kể đến tên của cha Piô Ngô Phúc Hậu.
Xin kính tiễn và tri ân một vị chân tu đã đi đến tận cùng của tình yêu thương Kitô giáo.
LÊ HỮU TUẤN
Bình luận