Trong bài viết “Ðề xuất xây vườn chữ Quốc ngữ ở Hội An” trên báo Thanh Niên ngày 10.4.2019, tác giả Trinh Nguyễn thuật lại những điều giáo sư Nguyễn Ðăng Hưng trình bày trong buổi tọa đàm về việc tri ân người sáng tạo chữ Quốc ngữ tại Hà Nội chiều ngày 9.4. Theo đó, khi giáo sư đề cập đến chuyện cắm “mốc” thời gian cho việc kỷ niệm chữ Quốc ngữ, vẫn còn có sự phân vân, chưa nhất trí của cử tọa. Tiến sĩ ngôn ngữ học Ðào Tiến Thi khẳng định việc tôn vinh chữ Quốc ngữ còn là câu chuyện khoa học. Vì thế, các thông tin đưa ra cần chính xác. Tiến sĩ Thi phủ nhận mốc 300 năm, ông cho rằng : “Nếu nói nhờ chữ Quốc ngữ mà nước Việt Nam được hội nhập cách đây 300 năm thì không đúng. Thời kỳ mới ra đời, chữ Quốc ngữ chỉ nằm trong nhà thờ, phải chờ tới nửa sau thế kỷ 19 mới xuất hiện nhà văn viết chữ Quốc ngữ và cũng chỉ ở Nam bộ”… Ông không đồng ý với việc lấy mốc kỷ niệm chữ Quốc ngữ là chỉ dụ của vua Khải Ðịnh về việc không dùng chữ Hán để dạy học nữa. Theo ông, “Chỉ dụ có thật nhưng ít ý nghĩa. Chính quyền nhà Nguyễn chỉ có chủ quyền Trung kỳ mà không có ở Bắc kỳ, Nam kỳ. Chỉ dụ đó dân Bắc, Nam không biết. Ðiều này lại còn giảm tuổi chữ Quốc ngữ nữa”. Tiến sĩ Thi đề nghị có thể chọn các mốc khác để kỷ niệm. Chẳng hạn, mốc ra đời báo chữ Quốc ngữ đầu tiên là tờGia Định báo 1865, hay lấy thời điểm có trường dạy quốc ngữ đầu tiên là Ðông Kinh Nghĩa Thục…
![]() |
Theo thiển ý của chúng tôi, lịch sử quá rõ. Kỷ niệm một sự kiện lịch sử phải đứng trên quan điểm lịch sử mới chính xác. Chữ Quốc ngữ do một số Thừa sai sáng tạo tại Thanh Chiêm vào đầu thế kỷ 17. Linh mục Pina là người sử dụng thông thạo Quốc ngữ đầu tiên và trong quá trình học Tiếng Việt rồi ghi âm, phiên âm bằng mẫu tự Latinh, có sự giúp sức của các thầy Giảng Việt Nam và cả giáo dân nữa; sau đó cha Alexandre de Rhodes tổng hợp, điển hóa đặt ra mẹo luật rồi soạn và phát hành chính thức 2 cuốn sách dùng tiếng Việt đầu tiên, năm 1651, đăng ký Quốc ngữ vào danh sách các ngôn ngữ trên thế giới, đó là những vấn đề lịch sử không ai chối cãi.
Chúng ta xác định: Chữ Quốc ngữ ra đời tại Việt Nam, được sáng tạo cho người Việt (dù họ thuộc tôn giáo nào đi nữa), được bảo tồn và lưu truyền trong những cộng đoàn làng xóm Việt Nam, phải căn cứ vào gốc Việt Nam, không nên dựa trên gốc tôn giáo.
Tín hữu, xứ đạo Công giáo Việt Nam, trước hết mang gốc Việt Nam, luôn xác định: “Trước khi là người Công giáo, tôi là người Việt Nam”.Dĩ nhiên, các Thừa sai không được lệnh nhà vua chính thức giao cho nhiệm vụ sáng tác chữ Quốc ngữ. Các ngài sống với giáo dân trong lòng xứ đạo, do đó chữ Quốc ngữ được giáo dân tiếp thu, bảo tồn, phát huy là điều đương nhiên. Chữ Quốc ngữ được sáng tạo do nhu cầu thực tế: cần tiếp xúc để giảng đạo. Nhu cầu nào không thành vấn đề, lịch sử chỉ ghi nhận: Chữ Quốc ngữ xuất hiện vào thời điểm nào? Do ai? Ở đâu? Còn việc ai dùng thì không thành vấn đề…
Một ngôn ngữ mới muốn được thêm vào danh sách các ngôn ngữ trên thế giới thì phải có “ngày sanh tháng đẻ”. Giấy khai sinh đó phải được một nhà nước pháp quyền công nhận.
Giới ngôn ngữ học quốc tế bắt buộc phải ghi nhận sự xuất hiện lần đầu trên mặt bằng ngôn ngữ thế giới một ngôn ngữ mới, đó là chữ Quốc ngữ đầu tiên trong cuốn tự điển Việt Bồ La và cuốn “Phép giảng Tám ngày” do cha Alexandre de Rhodes biên soạn và Bộ Truyền Giáo Roma xuất bản năm 1651.
Ðây là mốc lịch sử, lần đầu tiên Quốc ngữ chính thức đứng ngang hàng với chữ Bồ Ðào Nha, Latinh và nhiều chữ khác xuất hiện trước nó cả mấy ngàn năm. Chuyện con chữ Quốc ngữlần đầu tiên chính thức sánh vai với các ngôn ngữ thế giới mới là vấn đề lịch sử quan trọng, còn việc nó bắt đầu từ xóm đạo hay xóm không đạo chẳng quan trọng. Thế nên, “mốc” 1651 với 2 tác phẩm trên của cha Ðắc Lộ là hợp lý, hợp tình và hợp với lịch sử nhất.
LM Giuse Nguyễn Hữu Triết
Trưởng ban Mục vụ Văn hóa TGP.TPHCM

Bình luận