Lần đối đáp thứ III: Hãy tạ ơn Chúa là Thiên Chúa chúng ta - Thật là chính đáng
Câu “Hãy tạ ơn Chúa là Thiên Chúa chúng ta” có lẽ mượn mẫu chúc lành trước bữa ăn của người Do Thái rồi đưa vào sử dụng trong phụng tự Kitô giáo nhằm diễn tả lời mời gọi cầu xin chúc phúc đặc biệt trên chén rượu (Berakah/ eucharistia) chứ không chỉ là là lời cảm tạ chung chung1. Dường như Chúa Giêsu đã bắt đầu kinh nguyện tại bữa tiệc ly bằng những lời tương tự như vậy2.
![]() |
Bên Đông phương, thay vì nói ở thể xác định, một vài chủ tế đổi sang thể nghi vấn: “Chúng ta có cảm tạ Chúa là Thiên Chúa chúng ta không?” nhằm công khai làm rõ sự tán thành của cộng đoàn đối với những lời chủ tế đọc nhân danh họ cũng như xác định Kinh nguyện Thánh Thể thuộc về toàn thể cộng đoàn phụng vụ. Điều này phù hợp với chức năng của những lời đối đáp như thế trong phụng vụ Do Thái3. Câu “Chúng con cảm tạ Chúa...” thực ra đã nằm trong kinh Vinh Danh rồi và đó là tâm tình đáp lại Thiên Chúa rất phổ biến trong Kinh Thánh khi con người nhận ra những việc thiện hảo và công trình cứu độ mà Thiên Chúa đã thực hiện trong cuộc sống của họ. Ngày xưa, Thiên Chúa đã cứu dân Itraen khỏi tay kẻ thù; ngày nay, Thiên Chúa sai Con của Ngài đến trần gian hầu cứu các tín hữu khỏi tội lỗi và sự chết. Ngày xưa, Thiên Chúa đã làm bao dấu lạ điềm thiêng giữa dân của Ngài; ngày nay, do quyền năng của Chúa Thánh Thần mà phép lạ bánh rượu biến thành Mình Máu Chúa Kitô đang diễn ra trước mắt chúng ta...
Tóm lại, con người phải cảm tạ Thiên Chúa vì tất cả những điều kỳ diệu Ngài đã ra tay thực hiện trong công trình sáng tạo, cứu chuộc và thánh hóa họ. Vì thế, chủ đề tạ ơn bàng bạc trong Kinh Thánh, đặc biệt chúng ta có thể tìm thấy trong nhiều Thánh Vịnh (Tv 18; 30; 66,4; 92; 95,2; 118; 100,4; 136; 138; 107,8.15.212.31) cũng như trong các thư của thánh Phaolô (Cl 2,17; 3,16-17; 1Tx 5,18; Pl 4,6; 1Cr 14,16; Ep 5,19-20)4.
![]() |
Hành vi cảm tạ phải dựa trên sự suy ngẫm và xem xét thận trọng. Đây là hành vi được thực hiện một cách ý thức và đòi buộc về phía con người. Cảm tạ được xác định như là “phải lẽ và công bình” (dignum et iustum) ngay sau câu xướng “Hãy cảm tạ Chúa là Thiên Chúa chúng ta”. Hai từ này “phải lẽ và công bình”, theo Dom Botte, chúng có nghĩa như nhau. Kinh Tiền tụng chung 4 trong Sách lễ hiện nay viết rằng: “…chúng con tạ ơn Chúa mọi nơi mọi lúc, thật là chính đáng, phải đạo và đem lại ơn cứu độ (salutare) cho chúng con”. Điều này phản ánh chiều kích cứu độ của tạ ơn5.
“Thật là chính đáng” (Dignum et ustum est) dịch cho đầy đủ hơn là “Thật là phải lẽ (dignum) và công bằng” [công minh; công chính] (iustum) như chúng ta thấy trong một số đoạn văn Thánh Kinh: “Thưa anh em, chúng tôi phải luôn luôn tạ ơn Thiên Chúa về anh em: đó là điều phải lẽ (axion) [2Tx 1,3]; “Các ông hãy nghe những điều anh em đồng bào các ông kiện tụng, và hãy xử công minh (iustum) giữa một người đồng bào với một người đồng bào, hoặc với một ngoại kiều ở với người ấy (Đnl 1,16); “Thiên Chúa làm như vậy, để sự công chính (iustitia) mà Luật đòi hỏi được hoàn toàn thực hiện nơi chúng ta, là những người không sống theo tính xác thịt, nhưng theo Thần Khí (Rm 8,4).
Câu đáp “Thật là chính đáng” âm vang những lời dẫn nhập của bài ca chúc tụng (Hallel) của vị đứng đầu bàn tiệc vượt qua: [i] “Lạy Chúa là Thiên Chúa chúng con, Ngài xứng đáng lãnh nhận vinh quang, danh dự và uy quyền, vì Ngài đã dựng nên muôn vật, và do ý Ngài muốn, mọi loài liền có và được dựng nên.” (Kh 4, 11); [ii] “Ngài xứng đáng lãnh nhận cuốn sách và mở ấn niêm phong, vì Ngài đã bị giết và đã lấy máu đào chuộc về cho Thiên Chúa muôn người thuộc mọi chi tộc và ngôn ngữ, thuộc mọi nước, mọi dân” (Kn 5, 9); [iii] “Con Chiên đã bị giết nay xứng đáng lãnh nhận phú quý và uy quyền, khôn ngoan cùng sức mạnh, danh dự với vinh quang, và muôn lời cung chúc” (Kh 5, 12)6.
Lời đáp lại “Thật là chính đáng” biểu lộ sự hợp nhất thâm sâu giữa vị tư tế và cộng đoàn; biểu tỏ sự ưng thuận đồng tình của các tín hữu tham dự trước những lời khích lệ và đề nghị của chủ tế; cũng như biểu lộ lòng ao ước của họ được cùng với vị chủ tế dâng lời tạ ơn Thiên Chúa [với những lý do về phía Thiên Chúa như các phẩm tính siêu vượt của Ngài và những công trình kỳ diệu Ngài ra tay thực hiện cho loài người trong lịch sử mà sẽ được trình bày thêm tùy theo từng kinh Tiền tụng].7 Tựu chung, người ta thấy những ý chính để tạ ơn là: [i] Mầu nhiệm sáng tạo và những ân huệ Thiên Chúa rộng ban cho loài người qua trật tự tự nhiên; [ii] Mầu nhiệm cứu độ của Chúa Giêsu: nhập thể, khổ nạn, phục sinh, lên trời và tất cả những gì cần thiết cho ơn cứu độ; [iii] Mầu nhiệm khổ nạn và phục sinh tỏ hiện qua chư thánh, nhất là qua các vị tuẫn đạo…8.
(tiếp theo và hết)
Lm Giuse Phạm Ðình Ái, dòng Thánh Thể, SSS
_____________________________________________________________
1 Xc. Johannes H. Emminghaus, The Eucharist:Essence, Form, Celebration (Collegeville, Minnesota: The Liturgical Press, 1997),180.
2 Sean Swayne, Communion: The New Rite of the Mass (Dublin: Veritas Publicatons, 1974), 59.
3 Kevin Seasoltz (ed.), Living Bread, Saving Cup (Collegeville, Minnesota: The Liturgical Press, 1982), 115.
4 Edward Sri, A Biblical Walk through the Mass, 98-99.
5 Xc. Enrico Mazza, The Eucharist Prayers of the Roman Rite trans. Matthew J. O’Connell (Collegeville, MN: Liturgical Press / A Pueblo Book, 2004), 42.
6 Jerome Gassner, The Canon of the Mass: Its History, Theology and Art (London: B. Herder Book, 1949), 106-107.
7 Xc. Le Gall, La Mess au fil de Ses Rites, 141.
8 Augustinô Nguyễn Văn Trinh, Phụng vụ Thánh lễ (1999), 400.
.jpg)

Bình luận