Giáo hội địa phương và cơ cấu nhân sự của Giáo hội địa phương từ năm 1975 đến nay
Giáo hội địa phương và cơ cấu nhân sự của Giáo hội địa phương từ năm 1975 của Công giáo Việt Nam đến nay cơ bản như đã trình bày trong nội dung của những bài trước. Vì vậy ở phần này chỉ trình bày thêm về Hội đồng Giám mục Việt Nam và các dòng tu.
Tổ chức Hội đồng Giám mục Việt Nam ra đời trên cơ sở quy định của Công đồng Vatican II.
Từ khi Bộ Giáo luật 1983 chính thức có hiệu lực, Hội đồng Giám mục Việt Nam vận hành theo Bộ Giáo luật này.
Từ ngày 24 đến ngày 30.4.1980 tại Tòa Tổng Giám mục Hà Nội, Đại hội Giám mục Việt Nam đã họp lần đầu tiên với 33 vị gồm Hồng y, Tổng Giám mục, Giám mục trong 24/25 địa phận cả nước. Đại hội kết thúc bằng một Thư Chung lịch sử, quen gọi là Thư Chung 1980, xác quyết đường hướng mục vụ của Giáo hội Công giáo Việt Nam: “Sống Phúc âm giữa lòng dân tộc để phục vụ hạnh phúc của đồng bào”. Đại hội bầu Ban Thường vụ, thành lập 3 Ủy ban Giám mục.
Sự ra đời của Hội đồng Giám mục Việt Nam không chỉ là sự thực hiện theo tinh thần của Công đồng Vatican II, mà còn là sự ra đời “một tổ chức có tính cách pháp nhân, gồm tất cả các Giám mục đang thi hành phận sự mục vụ nơi các giáo phận tại Việt Nam (x. Quy chế Hội đồng Giám mục Việt Nam). Tổ chức này có nhiệm vụ cổ vũ tình liên đới để phát huy các thiện ích mà Giáo hội cống hiến cho Dân Chúa bằng các hình thức tông đồ và các phương pháp thích hợp với hoàn cảnh của thời đại, trong đó tinh thần gắn bó với dân tộc và đất nước”. Một trong những mục đích của Hội đồng Giám mục Việt Nam là xây dựng Giáo hội mầu nhiệm - hiệp thông - truyền giáo và phục vụ con người trong xã hội làm điểm quy chiếu cho mọi sinh hoạt và quyết định của mình.
Cơ cấu nhân sự của Hội đồng Giám mục Việt Nam :
Ủy ban Thường vụ gồm: Giám mục chủ tịch; một hay nhiều Giám mục Phó chủ tịch; Giám mục Tổng thư ký; một hay nhiều Giám mục Phó tổng thư ký (Phó tổng thư ký có thể là linh mục).
Các Giám mục Chủ tịch ủy ban (từ Đại hội 11 có 17 Ủy ban Giám mục).
Văn phòng Tổng Thư ký giúp việc.
Thẩm quyền của Ban Thường vụ Hội đồng Giám mục Việt Nam:
- Là đại diện của Hội đồng Giám mục Việt Nam;
- Chăm lo thực hiện các quyết định của Hội đồng Giám mục Việt Nam;
- Bảo đảm tính liên tục trong các đường hướng mục vụ chung của Hội đồng Giám mục;
- Giải quyết các vấn đề thông thường giữa các lần hội nghị của Hội đồng Giám mục;
- Tổ chức bầu Ban Thường vụ mới. Nhiệm kỳ Ban Thường vụ Hội đồng Giám mục Việt Nam là 3 năm và chấm dứt sau hội nghị bầu cử.
Đến năm 2019, Hội đồng Giám mục Việt Nam đã trải qua 14 kỳ đại hội. Từ chỗ Hội đồng chỉ có 3 Ủy ban Giám mục, đến Đại hội lần thứ XI đã có tới 17 ủy ban. Đại hội lần thứ XIV (2019 - 2022) ngoài 17 Ủy ban có thêm một tổ chức “Đối thoại liên tôn và đại kết” do Đức Giám mục Stêphanô Tri Bửu Thiên đặc trách. Qua các kỳ đại hội, Hội đồng thường có Thư Chung và một số cuộc họp thường niên có Thư mục vụ. Thư Chung hay Thư mục vụ ngoài việc đề cập đến “Sứ vụ” của Giáo hội, còn đề cập đến đường hướng, vai trò của Giáo hội đối với dân tộc với quê hương đất nước, mà tiêu biểu như Thư Chung 1980, hay Thư Chung năm 2001...
Năm 2005, Giáo hội Công giáo Việt Nam chia tách giáo phận Xuân Lộc (Đồng Nai) thành hai giáo phận: Xuân Lộc (Đồng Nai) và giáo phận Bà Rịa (Bà Rịa - Vũng Tàu), tăng số giáo phận lên thành 26. Năm 2018, Tòa Thánh thiết lập giáo phận Hà Tĩnh tách ra từ giáo phận Vinh. Đây là giáo phận thứ 27 của Công giáo ở Việt Nam.
Tổ chức dòng tu Công giáo ở Việt Nam từ buổi đầu đến nay[1]
Do điều kiện lịch sử, dòng tu Công giáo ở Việt Nam có những tên gọi khác nhau như: hội dòng, tu đoàn, tu hội, hội, dòng, đan viện..., thực chất đều là dòng tu. Dòng tu ở Việt Nam có dòng tu dành cho nam giới gọi là dòng tu nam, có dòng tu dành cho nữ giới gọi là dòng tu nữ. Có dòng tu thuộc quyền Giáo Hoàng (dòng Giáo Hoàng) và dòng thuộc quyền giáo phận (dòng Giáo phận).
Về quá trình hình thành tổ chức dòng tu Công giáo ở Việt Nam, tác giả vẫn tuân theo sự phân chia làm 3 thời kỳ:
Thời kỳ từ buổi đầu đến năm 1954.
Thời kỳ từ năm 1954 đến năm 1975.
Thời kỳ từ năm 1975 đến nay.
Thời kỳ từ buổi đầu đến năm 1954
Công giáo ở Việt Nam được xếp vào diện miền truyền giáo. Buổi đầu của công cuộc truyền giáo của Công giáo ở Việt Nam thuộc về một số dòng như dòng Đa Minh, dòng Tên, Hội Thừa sai Paris.
Dòng Đa Minh
Danh xưng chính thức của dòng là Dòng Anh Em Thuyết giáo do thánh Đa Minh sáng lập năm 1216 tại Toulouse, Pháp. Dòng có trụ sở tại Rôma.
Bổn mạng: Lễ kính Thánh Tổ phụ, ngày 8 tháng 8 hằng năm.
Châm ngôn: “Chiêm niệm và truyền thông chân lý” (Contemplata aliis tradere).
Tôn chỉ: Những yếu tố căn bản của đời tu Đa Minh là: sống cộng đoàn, tuân giữ các lời khuyên Phúc Âm, cử hành phụng vụ công cộng, chuyên cần học hỏi chân lý và thi hành tác vụ tông đồ.
Hoạt động chính: giảng dạy tại các chủng viện, học viện, giảng thuyết lưu động, điều hành giáo xứ.
Dòng Đa Minh đến Việt Nam từ thế kỷ XVI (1550). Từ năm 1756, dòng phụ trách miền truyền giáo Đa Minh, nay là 5 giáo phận: Hải Phòng, Bùi Chu, Bắc Ninh, Thái Bình và Lạng Sơn.
Tổ chức: ở Việt Nam có một tỉnh dòng là Tỉnh dòng Đa Minh Việt Nam với 4 tu viện, 2 tu xá, đứng đầu là Bề trên Giám tỉnh.
Dòng Tên (Chúa Giêsu)
Dòng do Thánh Inhã (Ignace de Loyala 1491-1556) sáng lập vào Mùa Chay 1539. Đức Giáo Hoàng Phaolô III chính thức phê chuẩn vào năm 1540 với tên gọi “Dòng Chúa Giêsu”.
Ở Việt Nam, vì kính húy danh Thánh Chúa, nên gọi là dòng Tên. Các thừa sai dòng Tên thuộc những nhà truyền giáo tiên phong ở Việt Nam. Năm 1615, các thừa sai dòng Tên đã đến Việt Nam tại Hội An, Đà Nẵng. Người có vai trò nổi bật trong buổi đầu truyền giáo là thừa sai Đắc Lộ (Alexandre de Rhodes, 1593-1660). Đến năm 1773, dòng chấm dứt hoạt động ở Việt Nam.
Bổn mạng: Lễ kính Danh Thánh Chúa Giêsu, ngày 3 tháng 1 hằng năm.
Lễ Thánh tổ phụ Inhã, ngày 31 tháng 7.
Châm ngôn: “Cho vinh danh Thiên Chúa hơn” (Ad Maiorem Dei Gloriam).
Tôn chỉ hoạt động: Bước theo Chúa Giêsu vác thập giá, sẵn sàng để được Đức Thánh Cha sai đi đến bất cứ nơi đâu, làm bất cứ việc gì, nhằm tôn vinh Thiên Chúa hơn và giúp ích cho con người hơn, theo tinh thần chiêm niệm trong hoạt động.
Hội Thừa sai Paris (Société des Missions Etrangères de Paris - MEP)
Hội ra đời do hai vị sáng lập chính là hai giám mục Francois Pallu và Lambert de la Motte vào năm 1658.
Chủng viện của hội được chính quyền chấp nhận với lá thư đề ngày 26.7.1663 và giáo quyền châu phê do chính Đức Hồng y Chiggi, Đặc sứ của Đức Giáo Hoàng Alexandre VII, ngày 11.8.1664.
Đặc tính: Hội Thừa sai Paris là một hội giáo sĩ thuộc quyền Giáo Hoàng, không có lời khấn, không được miễn trừ.
Mục đích: Huấn luyện các linh mục bản quốc trong các miền đã đón nhận Phúc Âm; coi sóc các giáo dân hiện có; lo làm cho người ngoại giáo trở lại.
Tại Việt Nam: Vị thừa sai đầu tiên của hội tại Việt Nam là Deydier, năm 1666. Các vị thừa sai của MEP có vai trò rất lớn trong việc truyền giáo, phát triển đạo Công giáo ở Việt Nam.
Tổ chức nội bộ: Các thừa sai hội viên khi phục vụ tại đâu đều vâng phục giáo quyền tại đó, đồng thời cũng được đặt dưới quyền một bề trên cho mỗi địa phận. Các tổ chức miền đó lại hợp thành một cộng đoàn lớn hơn do một bề trên tỉnh dòng điều khiển.
Hoạt động: Các linh mục Hội Thừa sai Paris làm việc tùy sự chỉ định của giám mục sở tại, với sự đồng ý của cha bề trên của Hội.
(còn tiếp)
PGS.TS Nguyễn Hồng Dương
1 Viết về dòng tu Công giáo ở Việt Nam, chúng tôi dựa vào Chương 18: Các tổ chức tu trì tại Việt Nam, từ tr.306 đến tr.422 của cuốn Giáo hội Công giáo Việt Nam, Niên giám 2004.
Bình luận