Hội đoàn Công giáo từ năm 1954 đến năm 1975
Ngày 20.7.1954, Hiệp định Genève được ký kết, diễn ra cuộc di dân giữa hai miền Nam Bắc. Nghiên cứu về tổ chức giáo xứ, giáo họ Công giáo từ năm 1954 đến năm 1975 vì vậy phải nghiên cứu về hai miền, bởi tổ chức giáo xứ, giáo họ thời kỳ này ở mỗi miền có những nét đặc thù riêng.
Hội đoàn Công giáo ở miền Bắc từ năm 1954 đến năm 1975
Cuộc di cư năm 1954 kéo theo những hệ lụy đối với Công giáo ở miền Bắc, trong đó có hệ lụy về tổ chức xứ, họ đạo. Nhiều xứ, họ đạo do toàn bộ hay phần lớn giáo dân di cư nên hoặc bị xóa sổ, hoặc phải “ghép” vối những xứ, họ đạo khác. Trong điều kiện xây dựng xã hội mới, người Công giáo tự nhận thấy cần thiết phải sống đạo phù hợp với điều kiện thực tế. Những năm đầu sau giải phóng, người Công giáo miền Bắc lo củng cố lại xứ, họ đạo. Các chức vị trong tổ chức xứ, họ đạo một mặt được giản tiện, mặt khác được mang một tên gọi mới. Đó là Ban Hành giáo xứ, họ đạo. Các chức vụ trong ban có trưởng ban phụ trách chung, phó trưởng ban giúp việc cho trưởng ban, thư ký lo việc sổ sách của xứ, họ đạo. Có thể có chức thủ quỹ, cai quản tài sản của giáo xứ, giáo họ, nhất là những xứ đạo không có linh mục trị sở.
Hệ thống tổ chức chỉ duy trì ở cấp xứ đạo, họ đạo, các hình thức khác như: dâu, giáp, tích, lân, khu vực... đều bị giải thể.
Ở miền Bắc thời kỳ này hầu hết các hội đoàn Công giáo không còn hoạt động. Mỗi xứ đạo thông thường chỉ còn lại hội hát, hội con hoa phục vụ cho nghi lễ. Một số xứ đạo còn giữ lại hội kèn, hội trống hoặc hội trắc...
![]() |
| Mô hình tổ chức của xứ Tân Mai trước năm 1980 |
Hội đoàn Công giáo ở miền Nam từ năm 1954 đến năm 1975
Trước khi có cuộc di cư của một bộ phận Công giáo miền Bắc vào Nam, ở miền Nam từ Quảng Trị cho đến Bạc Liêu hình thành nhiều xứ họ đạo Công giáo; vùng Quảng Trị có những xứ, họ đạo lớn như Dinh Cát, Di Loan; ở khu vực Sài Gòn như Chợ Quán, Tân Định, Chợ Đũi, Xóm Chiếu. Đồng bằng sông Cửu Long có những xứ như Hà Tiên, Hòa Điền, Mặc Bắc... Các chức vụ trong Ban Quới chức ở Nam Bộ, Ban Câu - Trùm ở Trung Trung Bộ, Giáo phu ở Tây Nguyên tiếp tục được duy trì cho đến đầu năm 1970, khi mà một số giáo phận theo tinh thần của Công đồng Vatican II (1962-1965) tổ chức lại theo tên gọi và nhiệm vụ, chức năng mới.
Cuộc di cư của một bộ phận Công giáo vào Nam tính đến thời điểm 31.12.1955 là 887.861 người[1]. Phần lớn người di cư từ miền Bắc vào Nam tập trung ở vùng Hố Nai - Biên Hòa, vùng dinh điền Cái Sắn. Để tiện cho việc giữ đạo, giúp đỡ nhau trong cuộc sống, những người di cư thường tụ tập lại trên cơ sở của làng, xã, huyện, tỉnh hoặc giáo phận gốc ở miền Bắc. Họ lấy tên làng, xã, huyện, tỉnh hoặc giáo phận đặt cho tên xứ, họ đạo của mình, như giáo xứ Phát Diệm, giáo xứ Tân Sa Châu (vì có tới hơn nửa dân làng Sa Châu di cư vào Nam) hay Ngọc Đồng, Kẻ Sặt, Lai Ôn, Ngô Xá. Cũng có khi là tên ghép của hai giáo phận Bùi Chu và Phát Diệm thành xứ Bùi Phát... Những xứ, họ đạo được thành lập, kéo theo đó là việc thành lập một tổ chức với các chức danh như trương, trùm, quản (những chức danh vốn có ở miền Bắc trước năm 1954 được đưa vào). Tuy nhiên, đó chỉ là một cách nhìn tổng quát. Trên thực tế, có một số mô hình tổ chức xứ, họ đạo mang tính đặc thù.
Giáo xứ Tân Mai (nay thuộc phường Tân Mai, thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai) là giáo xứ di cư. Đây là giáo xứ tập hợp của cư dân 12 làng khác nhau. Linh mục quản xứ khi “phân lô, cắm đất” thiết lập nơi cư trú của tín hữu đã tính đến cộng đồng 12 làng thành 12 miền (còn gọi là 12 hội đồng hương), đó là miền Phú Nhai; miền Bùi Chu; miền Ninh Cường; miền Quần Phương; miền Tương Nam; miền Báo Đáp; miền Hai Giáp; miền Liễu Đề; miền Tứ Trùng; miền Quất Lâm; miền Ngọc Châu; miền Lê Xá.
Những miền này sẽ tự bầu chọn một vị trưởng miền, một phó miền và một thư ký. Khi trong miền có người cần chứng hôn hay rửa tội hoặc qua đời thì trưởng miền có trách nhiệm viết giấy giới thiệu gởi cho linh mục quản xứ. Điều đó cũng lý giải tại sao trong suốt thời gian đầu, giáo xứ Tân Mai không có sổ sách nhân danh mà do các miền tự quản lý[2].
Cộng đồng giáo dân miền Bắc di cư đến Cái Sắn cùng với việc thành lập xứ, họ đạo là việc tái tạo lại Ban Hàng phủ (Ban Hành giáo) với các chức vụ: trùm chánh, trùm phó, thư ký, thủ quỹ.
Cho đến trước Công đồng Vatican II, xứ đạo Nam (xứ đạo gốc) vẫn duy trì Ban Quới/quý chức, xứ đạo Bắc (xứ đạo do giáo dân di cư lập) vẫn duy trì Ban Hàng phủ (Ban Hành giáo) xứ, họ đạo. Sau Công đồng Vatican II, về nguyên tắc cả hai mô hình trên bị xóa bỏ. Một mô hình tổ chức mới mang tên Hội đồng Giáo xứ được thiết lập. Thành phần của Hội đồng Giáo xứ thông thường bao gồm: Ban Thường vụ, gồm các chức vụ: chủ tịch, phó chủ tịch, tổng thư ký, tổng thủ quỹ. Ban Thường vụ là đại diện cho Hội đồng Giáo xứ giúp việc cho linh mục chính xứ về mục vụ, tham gia điều hành hoạt động tông đồ và các hoạt động tôn giáo, từ thiện, xã hội khác. Thành viên mỗi Hội đồng Giáo xứ thường có 9, 11, 15, 17 người.
Ban Chấp hành khu, xóm hay họ đạo bao gồm một trưởng khu, một phó trưởng khu và một vài ủy viên đảm nhiệm công việc thư ký, thủ quỹ... Nhiệm vụ của Ban Chấp hành khu (xóm) được chỉ ra rất cụ thể là: Lưu tâm đến những tình trạng và chiều hướng phát triển tinh thần lẫn vật chất của từng gia đình, từng cá nhân, đồng thời phải báo cáo lên Hội đồng Giáo xứ để nhận sự góp ý, giúp đỡ.
Phân khu hay xóm có một người đứng đầu, và một hai ủy viên do giáo dân bầu ra.
Trên thực tế, tên gọi tổ chức giáo dân ở xứ, họ đạo vẫn có sự không đồng nhất, bởi còn một số tên gọi khác nhau. Chẳng hạn, xứ đạo Châu Bình (Thủ Đức), một giáo xứ tập hợp giáo dân di cư năm 1954 của hai giáo phận của Bùi Chu (Châu) và Thái Bình (Bình) vẫn duy trì tên gọi mô hình Ban Hành giáo xứ, họ đạo cũ với các chức vụ chánh trương, phó trương, tuần kiểm, quản học trò, thư ký, thủ quỹ. Xứ không có họ đạo mà chia thành 4 giáo khu, nhưng mỗi giáo khu lại do một trùm trưởng đứng đầu (tài liệu điền dã năm 2000).
Tổ chức hội đoàn
Ở miền Nam thời kỳ này nổi lên Phong trào Công giáo tiến hành. Phong trào này nói một cách giản đơn là “sự cộng tác của giáo dân trong việc tông đồ của hàng giáo phấm”[3]. Công giáo tiến hành có các hội đoàn chuyên biệt, không chuyên biệt và các đoàn thể phụ tá.
Hội đoàn chuyên biệt: Tập hợp hội viên theo một khoảng lứa tuổi nhất định thuộc vào một địa bàn nhất định. Đó là các tổ chức với tên gọi Nghĩa binh Thánh Thể; Hùng tâm dũng chí; Phong trào Thanh lao công; Học sinh Công giáo; Sinh viên Công giáo; Hội Bác sĩ Công giáo; Hội Con Đức Mẹ; Hội Các bà mẹ Công giáo.
Hội đoàn không chuyên biệt: Tập hợp hội viên đa dạng về lứa tuổi và nghề nghiệp, bao gồm Hiệp hội Thánh Mẫu, Liên minh Thánh Tâm, Đạo binh Đức Mẹ (Legio Maria), Gia đình Phạt Tạ.
Các đoàn thể phụ tá: Là những tổ chức không đủ yếu tố căn bản để thành lập Công giáo tiến hành. Đó là các hội đoàn phụ tá đạo đức, như Dòng ba Phanxicô, Carmêlô, phụ tá phụng vụ như Hội Bác ái Vinh Sơn, Phaolô, phụ tá giáo dục công dân như Hướng đạo sinh Công giáo.
PGS.TS Nguyễn Hồng Dương
Công giáo tiến hành là đặc thù nổi trội của hội đoàn Công giáo miền Nam giai đoạn 1954-1975. Phong trào được điều hành bởi một tổ chức chặt chẽ từ Trung ương đến địa phương.
1 Nguyễn Đức Lộc: Cuộc di cư năm 1954 phải chăng là một định mệnh lịch sử của người Công giáo miền Bắc?, Tạp chí Nghiên cứu tôn giáo, số (131), 2014, tr.81.
2 Phạm Thị Bích Hằng: Đặc trưng văn hóa làng xã cổ truyền của người Việt trong xứ đạo gốc Bắc ở Đồng Nai (Trường hợp giáo xú Tân Mai), Tạp chí Nghiên cứu tôn giáo, số 5/2013, tr. 50-51.
3 Nguyễn Văn Vi, Tìm hiểu Công giáo tiến hành quốc tế và Việt Nam, Sài Gòn, 1965, tr. 28.

Bình luận