“Cái gì của Xêda thì hãy trả cho Xêda, và cái gì của Thiên Chúa thì hãy trả cho Thiên Chúa” là câu nói nổi tiếng của Chúa Giêsu. Trong tinh thần của ngày Chúa nhật Truyền Giáo, chúng ta tìm hiểu ý nghĩa thâm sâu của lời ấy qua Tông huấn “Niềm vui của Tin Mừng” (Evangelii Gaudium) của Đức Giáo Hoàng Phanxicô.

Những cách hiểu cũ
Vào thời Chúa Giêsu, dân Do Thái ở xứ Palestine sống dưới quyền cai trị của đế quốc La Mã, với Xêda là hoàng đế. Theo luật La Mã, mỗi người nam từ 14 đến 65 tuổi đều phải đóng thuế. Phái Hêrôđê thân La Mã sẵn sàng nộp thuế, còn nhóm biệt phái Pharisêu lại cấm thành viên của họ nộp thuế. Cả hai đã liên kết với nhau để gài bẫy Chúa Giêsu, bằng câu hỏi: “Có được phép nộp thuế cho Xêda hay không?”.
Nếu Chúa Giêsu trả lời “có”, Người có thể bị xem là đứng về phía đế quốc; nếu trả lời “không”, Người có thể bị tố cáo là chống chính quyền. Chúa Giêsu yêu cầu họ đưa đồng tiền nộp thuế, rồi hỏi hình và danh hiệu trên đó thuộc về ai. Khi họ đáp là của Xêda, Người nói: “Hãy trả cho Xêda những gì của Xêda, và trả cho Thiên Chúa những gì của Thiên Chúa”.
Trong lịch sử, câu nói này nhiều lần được dùng để đề cập việc tách biệt tôn giáo và chính trị. Nhiều người còn trích dẫn câu trả lời của Chúa Giêsu cho quan Philatô: “Nước tôi không thuộc về thế gian này” (x. Ga 18,36) để tách biệt hoạt động của Giáo hội ra khỏi thể chế chính trị trần thế. Các linh mục, tu sĩ, giáo dân cũng dựa vào câu trả lời này để chỉ chú tâm vào các hoạt động tôn giáo và không quan tâm đến các lĩnh vực khác như chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa…, dù họ cũng là công dân của một quốc gia và là thành phần của cộng đồng xã hội.
Chính vì chỉ quan tâm đến lĩnh vực tôn giáo từ thế kỷ XV đến nay nên nhiều học viện, tu viện Công giáo đã không còn theo dõi các tiến bộ của các khoa học nhân văn, nhất là các khám phá của khoa học từ đầu thế kỷ XXI về con người và vũ trụ. Sau giả thuyết tiến hóa của vật chất do Charles Darwin khởi xướng năm 1859, các nhà thần học Công giáo càng né tránh các khoa học thực nghiệm để chỉ quan tâm đến triết học, thần học và các lĩnh vực của đức tin. Họ không màng đến việc hội nhập văn hóa, ít đối thoại với các nền văn hóa và khoa học (x. Tông huấn Niềm vui của Tin Mừng, số 238), nên không biết giải thích thế nào để giúp cho những người trí thức, nhất là các người trẻ, cảm nhận được sự hiện diện của Thiên Chúa trong đời sống. Hậu quả là Tin Mừng của Chúa Giêsu Kitô không còn được loan báo và đón nhận dễ dàng như thời kỳ đầu của Giáo hội nữa.
Những đòi hỏi của việc loan báo Tin Mừng
Loan báo Tin Mừng là làm cho Nước Thiên Chúa hiện diện trong thế giới. Nhưng nếu việc này không được hiểu một cách đúng đắn, thì luôn luôn có nguy cơ xuyên tạc ý nghĩa đích thực và trọn vẹn của sứ mệnh loan báo Tin Mừng (x. Tông huấn Niềm vui của Tin Mừng, số 176). Việc loan báo này đòi hỏi ta phải tin tưởng dấn thân vào cộng đồng xã hội trong mọi lĩnh vực, thay vì tách biệt chúng.
Đức Thánh Cha Phanxicô nhắc bảo rằng: “Tin vào một người Cha yêu thương mọi người với một tình yêu vô biên, có nghĩa là nhận ra rằng qua đó Ngài ban cho họ một phẩm giá vô hạn”. Tin rằng Con Thiên Chúa mặc lấy xác thịt nhân loại có nghĩa là mỗi con người đã được đưa vào chính trái tim của Thiên Chúa. Ơn cứu chuộc chúng ta có một chiều kích xã hội bởi vì “Thiên Chúa, trong Đức Kitô, không chỉ cứu chuộc từng cá nhân, nhưng còn cứu chuộc các mối tương quan xã hội giữa con người với nhau”. Tin rằng Chúa Thánh Thần hoạt động trong mỗi người có nghĩa là nhận ra rằng Người tìm cách thâm nhập mọi tình huống của con người và mọi mối liên kết xã hội.
“Chính mầu nhiệm Ba Ngôi nhắc nhớ rằng chúng ta đã được dựng nên theo hình ảnh sự hiệp thông thần linh ấy, vì vậy không thể hoàn thành bản thân hay được cứu độ mà chỉ dựa vào cố gắng của riêng mình. Từ tâm điểm của Tin Mừng, chúng ta thấy mối liên kết sâu xa giữa loan báo Tin Mừng và thăng tiến con người, sự thăng tiến này bắt buộc phải được biểu hiện và phát triển trong mọi hoạt động loan báo Tin Mừng” (x. Tông huấn Niềm vui của Tin Mừng, số 178).
“Việc loan báo Tin Mừng sẽ không hoàn hảo nếu không lưu tâm tới tác động qua lại liên tục của Tin Mừng và đời sống cụ thể của con người, đời sống cá nhân cũng như xã hội” (x. ĐTC Phaolô VI, Tông huấn Evangelii Nuntiandi, ngày 8.12.1975, 29: AAS 68 (1976), 25).
Việc Thiên Chúa chọn một vị vua ngoại đạo Cyrô thực hiện kế hoạch cứu độ để mang lại hòa bình và an vui cho mọi người chính là lời mời gọi các chính quyền trên trái đất cùng chung tay thực hiện công lý và tình thương cho các dân tộc, bởi vì mọi người đều là anh chị em của nhau trong đại gia đình Thiên Chúa (x. Is 45,1.4-6).
Thánh Phaolô cũng nhắc nhở rằng: nếu mở lòng đón nhận Tin Mừng của Chúa Giêsu Kitô được ngài loan báo, thì chúng ta sẽ thấy “Tin Mừng đó không phải chỉ là lời nói mà là đi cùng với quyền năng, với Thánh Thần và với lòng xác tín” (1 Tx 1,5).
Như thế, câu nói nổi tiếng của Chúa Giêsu trên đây không còn cổ vũ sự tách biệt hai lĩnh vực đạo đời, mà thúc đẩy sự hòa hợp và thâm nhập của người tín hữu vào mọi lĩnh vực sinh hoạt của thế giới, vì Thiên Chúa đã in hình ảnh của Ngài vào từng con người và muôn loài trong vũ trụ này.
| “... Việc loan báo Tin Mừng sẽ không hoàn hảo nếu không lưu tâm tới tác động qua lại liên tục của Tin Mừng, và đời sống cụ thể của con người, đời sống cá nhân cũng như xã hội...” |
Lm Antôn Nguyễn Ngọc Sơn
Bình luận