Đọc lại đoạn Tin Mừng về điều răn yêu thương (x. Mt 22,34-40), mỗi người đều có những cảm nghiệm mới và được thôi thúc để nhìn lại tình yêu của mình đối với Thiên Chúa, cũng như đối với tha nhân.

Quy luật yêu thương của muôn loài
Khi người thông luật hỏi thử Chúa Giêsu: “Trong sách Luật Môsê, điều răn nào là điều răn trọng nhất”, Người biết rõ nỗi khó khăn của họ, bởi nhóm Pharisêu thường giữ cặn kẽ 613 điều răn trong bộ luật Tamud. Bộ luật này gồm 248 điều tích cực phải làm và 365 điều tiêu cực phải tránh, nên họ không biết điều luật nào là trọng nhất để tập trung vào đó. Đối với các người Do Thái khác, họ đều biết Mười Điều răn trong giao ước với Thiên Chúa, và cũng muốn biết Đức Giêsu chọn điều nào.
Đức Giêsu đã tóm gọn lề luật vào hai điều răn trọng nhất là mến Chúa yêu người. Người nối luật mến Chúa được diễn tả trong kinh Shêma ở sách Đệ Nhị Luật (x. Đnl 6,5) “Ngươi phải yêu mến Thiên Chúa của ngươi hết lòng, hết linh hồn, hết trí khôn ngươi” với giới luật yêu người ở sách Lêvi “ngươi phải yêu mến người thân cận như chính mình” (x. Lv 19,18), cho thấy hai điều răn này gắn bó và có giá trị ngang nhau.
Thiên Chúa là tình yêu (1Ga 4,16), nên khi Ngài dựng nên muôn loài thụ tạo, Ngài bày tỏ tình yêu và đặt tình yêu trong mỗi thụ tạo để chúng yêu Ngài và chia sẻ tình yêu cho nhau. Vì thế, tình yêu là quy luật của muôn loài. Tình yêu được Thiên Chúa đặt vào bản chất của sự vật cũng như trong bản tính của con người (x. Docat, chương I, Kế hoạch tổng thể của Thiên Chúa là tình yêu).
Quy luật ấy được diễn tả qua những mối liên kết trong thế giới tự nhiên, từ cấu trúc của vật chất đến sự gắn bó giữa các sinh vật. Chẳng hạn, nước được hình thành từ hydro và oxy; trong thế giới động vật, con đực và con cái kết hợp để sinh ra thế hệ kế tiếp. Nơi con người, tình yêu còn được thể hiện bằng ý thức và tự do, qua sự trao ban và quảng đại, góp phần xây dựng nền văn minh tình yêu. Cao cả nhất là tình yêu của các thiên thần vì họ là tinh thần tinh ròng, có khả năng phản ánh trọn vẹn tình yêu tuyệt vời của Thiên Chúa. Nhưng kế hoạch tình yêu ấy đã gặp trở ngại vì Thiên Chúa ban tự do cho các hữu thể có tinh thần, để họ có thể đón nhận hoặc khước từ tình yêu của Ngài. Một số thiên thần và con người đã chọn khước từ Thiên Chúa. Khi cắt đứt mối hiệp thông với Ngài, nguồn mạch của mọi hiện hữu và sự thiện hảo, họ đánh mất ân huệ đã lãnh nhận. Từ sự khước từ ấy, tội lỗi và những hậu quả đau thương đã đi vào thế giới.
Kế hoạch của Thiên Chúa không dừng lại ở công trình tạo dựng. Dù thụ tạo phản bội, Ngài vẫn tiếp tục yêu thương và cứu độ. Đức Giêsu cho ta biết rằng: “Thiên Chúa đã yêu thương thế gian đến nỗi đã ban Con Một” (Ga 3,16). Thiên Chúa cho Con của Ngài trở thành một con người mang thể xác vật chất để cứu độ muôn loài. Thiên Chúa tình yêu bây giờ hóa thân thành một người cụ thể là Đức Giêsu. Nơi Đức Giêsu, tình yêu vô hình của Thiên Chúa trở nên cụ thể và sống động. Qua lời nói, việc làm và chính cuộc đời mình, Đức Giêsu mặc khải tình yêu của Thiên Chúa, đồng thời dạy con người biết yêu mến Thiên Chúa và yêu thương nhau.
Yêu như Chúa Giêsu
Khi được hỏi điều răn nào trọng nhất, Chúa Giêsu cũng không dừng lại ở việc “mến Chúa trên hết mọi sự” và “yêu người như mình ta vậy” theo kiểu tóm tắt của bản kinh Mười Điều Răn. Người diễn đạt tình yêu Thiên Chúa trong cuộc sống của mình, qua từng lời nói, cử chỉ, hành động, qua cái chết và sự sống lại của Người. Như thế, chính cuộc đời Đức Giêsu đã cho thấy mến Chúa và yêu người phải được sống như thế nào. Người đúc kết tinh thần ấy trong lời dạy: “Đây là điều răn của Thầy: anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em” (Ga 15,2).
Muốn biết yêu Chúa như thế nào và yêu người ra sao, hãy nhìn vào Đức Giêsu. Người dành trọn vẹn cho Chúa Cha đến phút cuối cùng của cuộc đời: “Lạy Cha, con xin phó thác hồn con trong tay Cha” (Lc 23,46). Từ tình yêu dành cho Chúa Cha này, Đức Giêsu thực hiện công trình yêu thương cứu độ mà Chúa Cha đã giao phó cho Người. Do đó, “yêu người thân cận như chính mình” không còn là tiêu chuẩn tốt nhất nữa, vì “cái mình của mỗi người đều khác nhau”. Đức Giêsu dạy ta hãy yêu người thân cận hơn chính mình bởi vì Người “đã yêu cho đến cùng” (Ga 13,1), yêu đến độ chảy hết máu và nước trong trái tim mình (Ga 19,34). Người đã chết cho con người được sống. Cho nên yêu người thân cận hơn chính mình mới là cách thể hiện tình yêu của Chúa Giêsu.
Tình yêu của Đức Giêsu còn nâng cao phẩm giá con người, giúp họ phát triển trọn vẹn chứ không biến họ thành đối tượng sở hữu hay phục vụ những đam mê, dục vọng và toan tính ích kỷ. Đó là “đặc tính Kitô” của tình yêu. Tình yêu mang tính Kitô này luôn tôn trọng tự do của một người, đến độ cho phép người đó đóng đinh mình mà vẫn tha thứ cho họ (x. Lc 23,34), đến độ để họ đâm ngọn giáo vào trái tim mình mà vẫn không bao giờ khép lại (x. Ga 19,34). Đó là bài học từ trái tim yêu thương của Chúa Giêsu trên thập giá.
Tự sức mình, con người không thể yêu Chúa Cha trọn vẹn và yêu người thân cận hơn mình như Chúa Giêsu. Muốn sống tình yêu ấy, con người cần kết hợp mật thiết với Đức Giêsu và đón nhận Thần Khí Tình Yêu. Đó là lý do tại sao Chúa Giêsu Phục Sinh thổi hơi trên các môn đệ và ban Thánh Thần cho họ (x. Ga 20,22). Thánh Thần chính là Ngôi Ba Thiên Chúa, là Đấng nối kết Ngôi Cha và Ngôi Con lại với nhau, và nối kết chúng ta lại với Thiên Chúa.
Thánh Phaolô viết: “Thiên Chúa đổ tình yêu vào lòng chúng ta nhờ Thánh Thần Ngài ban cho chúng ta” (x. Rm 5,5) để giúp ta yêu thương như Chúa Giêsu. Vì thế, nếu muốn yêu thương cách trọn vẹn, hãy hành động theo sự soi sáng của Chúa Thánh Thần. Hãy chia sẻ cho mọi người, mọi vật gần gũi với mình những ân huệ, nguồn lực vật chất và tinh thần, mà Chúa Thánh Thần ban cho ta trong cuộc sống thường ngày, nhất là cho những người nghèo khổ, mồ côi, góa bụa (x. Xh 22,20-26).
Chỉ khi yêu như Chúa Giêsu ta mới hy vọng trở thành chứng nhân cho tình yêu của Người, trong thời đại khan hiếm tình yêu chân thật này.
| “... Đức Giêsu mặc khải tình yêu của Thiên Chúa, đồng thời dạy con người biết yêu mến Thiên Chúa và yêu thương nhau...” |
Lm Antôn Nguyễn Ngọc Sơn
Bình luận