* Tham khảo: Thấy gì, từ Kan-ji (Hán tự) của người Nhựt?
1.
Có người thắc mắc tại sao người Nhựt hiện nay vẫn mượn chữ Hán (漢字, người Nhựt gọi là Kan-ji) để dùng, chớ họ đâu bỏ chữ Hán?
Kỳ thực, Hán tự thích hợp với tiếng Hoa chứ không hoàn toàn thích hợp với tiếng Nhựt. Bởi vì Kan-ji (Hán tự) không thể diễn tả được hết ngôn ngữ của người Nhựt, thành thử họ phải dùng thêm hai bộ chữ biểu âm là “hiragana” ひらがな, và “katakana” カタカナ.
Vì sao người Nhựt còn giữ Kan-ji? Có vài lý do, trong đó lý do hệ trọng hết sức - đó là người Nhựt Bổn đã “buộc” chữ Kan-ji, ngoài âm Hán - Nhựt, chứa được quốc âm (Nhựt âm) của họ.
Chẳng hạn, một thắng cảnh nổi tiếng là “Phú Sĩ sơn” 富士山, chữ Hán 山 đọc theo âm Hán - Nhựt là “san”. Cũng vẫn viết chữ 山, người Nhựt đọc theo quốc âm (Nhựt âm) là “yama”.
Trong khi đó, chữ 山 đọc theo âm Hán - Việt là “sơn”, còn đọc theo quốc âm (Nam âm) là “núi” thì nằm ngoài Hán tự, tiền nhân chúng ta phải soạn ra chữ Nôm để gìn giữ quốc âm, ghi như này: ? “núi”.
Thêm tỉ dụ khác. Chữ Hán 私 không thể đọc theo quốc âm (Nam âm) là “riêng”, mà chỉ có thể đọc âm Hán - Việt là “tư” (đồng nghĩa). Muốn đọc “riêng” theo tiếng nói quen thuộc của chúng ta, phải dùng chữ Nôm mà ghi như sau: ? !
Viết chữ 私 như trên, đọc theo âm Hán - Nhựt là “shi” - như “tư tình” 私情, âm Hán - Nhựt là “shi jō”. Vẫn chữ 私, người Nhựt còn có cách đọc khác nữa là “watashi”.
Mà “watashi” 私, người Nhựt dùng làm đại từ nhân xưng ngôi thứ nhứt (“tôi”). Trong khi đó, người Việt dùng chữ 我để xưng ngôi thứ nhứt, âm Hán - Việt là “ngã”. Sao không phát âm là “tôi”? Không được phép, chỉ gọi “ngã” thôi. Muốn được gọi “tôi” bằng quốc âm (Nam âm), người Việt phải dùng chữ Nôm, viết như này: ? !
![]() |
|
山, trong âm Hán - Nhựt, đọc “san” - như 富士山: Fu Ji san (“núi Phú Sĩ). Mặt khác, ký tự 山 còn được đọc theo Nhựt âm (thuần Nhựt) là “yama”, như 山 葉: Yama-ha (Sơn Diệp).
|
2.
Đánh giá một hệ thống chữ viết cần thiết tới mức nào, là dựa vào năng lực đáp ứng được quốc âm tới đâu. Qua đó, cho thấy văn tự đó còn có sức sống hoặc đình trệ.
Hán tự, trong tay người Nhựt, thể hiện được quốc âm (Nhựt âm) của họ đồng thời với âm Hán - Nhựt, thành thử Kan-ji (Hán tự) vẫn còn “đất sống” là vì vậy (tuy nhiên, xin nhắc lại, cho dù vẫn dùng Hán tự nhưng chữ viết biểu ý này không thể biểu đạt cho bằng hết tiếng nói của người Nhựt, nên họ phải dùng thêm bộ chữ biểu âm hiragana và katakana)
Trong khi đó, Hán tự ở nước Việt được xem như “chữ thánh hiền”, chỉ được phép đọc bằng âm Hán - Việt, còn quốc âm (Nam âm) gạt ra ngoài lề. Nam âm phải tìm nơi trú ngụ trong chữ Nôm, thành thử Hán tự rơi vào sự đình trệ, không còn đủ sức sống để người Việt giãi bày toàn bộ tiếng nói của mình.
Trước thực trạng tôn sùng chữ Hán thời bấy giờ, Nguyễn Trường Tộ xót xa mà viết bản điều trần gởi cho triều đình, trong đó có đoạn: “Hai chữ 食 飯 sao không đọc là “ăn cơm”, mà cứ phải giữ cách đọc “thực phạn”, không lẽ “thực phạn” thì quý hơn “ăn cơm” hay sao?”.
Như vậy lúc đó, chỉ được phép đọc âm Hán - Việt “thực phạn” trong chữ thánh hiền, còn “ăn cơm” theo cách nói của người Việt thì bị đẩy ra bên ngoài; hoàn toàn khác với cách của người Nhựt, cũng cùng một chữ Hán có thể đọc bằng quốc âm đồng thời với cách đọc theo “chữ thánh hiền”.
Và, hãy xem cách thức hành xử của người Hàn đối với Hán tự (tiếng Hàn gọi là “Han-ja”). Hán tự không đủ chở lấy quốc âm của người Hàn, để rồi người Hàn đã từ giã Hán tự (Han-ja), mà thay vào bằng bộ chữ biểu âm Hangul!
THAY LỜI KẾT
Hệ thống chữ viết vay mượn nào mà không chứa được quốc âm của dân tộc thì chỉ dẫn đến sức sống giảm dần, đình trệ. Đó là trường hợp vay mượn chữ Hán ở nước Việt trong suốt nhiều thế kỷ dài đăng đẳng.
Nếu chứa được quốc âm, như Kanji (Hán tự) ở Nhựt Bổn, sức sống còn được duy trì. Hoặc như chữ Quốc ngữ, nhờ chứa được quốc âm, sức sống được phát triển, và rỡ ràng tới đâu còn tùy thuộc vào sự chung sức của muôn người VN…

Bình luận