Trong một cuộc trà đàm, anh bạn thắc mắc một số vấn đề về đạo Công giáo, như tại sao anh từng xem một clip, thấy người chủ sự gọi những người tham dự là “ông cố, bà cố”. Anh lấy làm lạ lắm vì là người ngoài đạo. Anh nói ráng quan sát, thấy có một số người “còn trẻ lắm, khoảng trên dưới 50 tuổi”. Còn trẻ sao vai vế lớn thế? Nhiều thế? Làm sao được vậy?... Mình tạm giải thích ngắn gọn cho anh, tựu trung đó là cách gọi quý cha mẹ của các linh mục và tu sĩ. Cha mẹ thì lớn tuổi có, nhưng tuổi 50 cũng có (có thể lập gia đình sớm, con đầu lòng đi tu, khấn lần đầu hay đang là Đại chủng sinh - nói chung là đã khoát y phục nhà tu). Anh tạm hiểu, nhưng xem ra chưa thông.
1. THỬ TÌM NGUỒN GỐC CÁCH GỌI
Nhân sự việc này, mình tìm hiểu thêm ngọn nguồn cho có đầu có đuôi về cách gọi đó. Tài liệu tra cứu khá hiếm hoi, khả năng hạn hẹp của mình chỉ tìm được một số ý kiến.
Nhiều người xác định, “ông bà cố” không phải là một danh xưng hay thuật ngữ chính thức của Giáo hội, chỉ xuất hiện trong văn hóa Việt Nam, khởi đầu từ miền Bắc, bày tỏ sự kính trọng và tri ân công lao sinh thành, nuôi dưỡng và giáo dục của cha mẹ những người có con đi tu (linh mục, tu sĩ). Miền Trung và miền Nam ngày trước không dùng từ này, mà giáo dân chỉ thường gọi các linh mục là “ông cố”, có lẽ xuất phát từ thời xa xưa, khi các linh mục thừa sai ngoại quốc hay được gọi là “cố đạo”.
Thời phong kiến, có giai đoạn cha mẹ của các bậc từ cử nhân trở lên cũng được gọi là “ông bà cố”, và thường khi đỗ đạt cử nhân, phó bảng, tiến sĩ thì đều được bổ dụng làm quan triều đình hoặc địa phương. Việc gọi cha mẹ các linh mục, tu sĩ là “ông bà cố” chắc là xuất phát từ nguồn gốc này, dù các ngài tu học, chọn đời dấn thân chỉ để phục vụ, không phải nhắm đến chức tước, quan quyền…
2. CĂN TÍNH GIÁO SĨ VÀ TU SĨ
- Giáo luật điều 207:
§1. Do sự thiết định của Thiên Chúa, trong Giáo hội, giữa các Kitô hữu có những thừa tác viên có chức thánh, theo luật được gọi là giáo sĩ, và những người khác, được gọi là giáo dân.
§2. Trong cả hai thành phần ấy, có những Kitô hữu được thánh hiến cho Thiên Chúa một cách đặc biệt và phục vụ sứ mạng cứu độ của Giáo hội do việc tuyên giữ các lời khuyên Phúc Âm bằng những lời khấn hoặc những mối ràng buộc thánh khác, được Giáo hội công nhận và phê chuẩn; tuy bậc sống của họ không thuộc về cơ cấu phẩm trật của Giáo hội, nhưng thuộc về đời sống và sự thánh thiện của Giáo hội.
- Lumen Gentium, số 28: Thừa tác vụ giáo sĩ do Thiên Chúa thiết lập được thi hành theo những cấp bậc khác nhau mà từ xưa được gọi là giám mục, linh mục và phó tế… Các linh mục liên kết với giám mục trong chức vị tư tế và nhờ bí tích Truyền Chức Thánh, linh mục được thánh hiến theo hình ảnh Đức Kitô, vị linh mục tối cao và đời đời (x. Hr 5,1-10; 7,24; 9,11-28) để rao giảng Tin Mừng, chăn dắt các tín hữu và cử hành việc phụng tự linh thánh như những tư tế đích thực của Tân Ước.
- Công Đồng Vatican II đã dạy:
“Qua việc tuyên khấn hay qua những ràng buộc linh thánh khác tương tự như lời tuyên khấn, các Kitô hữu tự buộc mình thực thi ba lời khuyên Phúc Âm, hiến thân hoàn toàn cho Thiên Chúa, Đấng được yêu mến trên hết mọi sự, phụng sự và làm vinh danh Thiên Chúa với một danh nghĩa mới và đặc biệt” (LG 44). Cụ thể, trước khi khấn sinh tuyên khấn, khấn sinh nhân danh Thiên Chúa Ba ngôi rồi mới tuyên khấn ba lời khuyên Phúc Âm: vâng phục, khó nghèo và khiết tịnh... “Nhờ ơn Chúa Thánh Thần trợ giúp, qua lời chuyển cầu của Thánh…, con (tên thánh, họ tên) quyết tâm sống trọn vẹn đặc sủng của Đấng Sáng Lập, để tôn vinh Thiên Chúa và phục vụ Giáo hội…”. Các lời tuyên khấn đã nói lên căn tính của người tu sĩ Công giáo: Dâng hiến toàn bộ cuộc đời để noi gương Đức Giêsu Kitô qua ba lời khuyên Phúc Âm để tôn vinh Thiên Chúa và phục vụ Giáo hội (địa phương hoặc toàn cầu). Cách chung, tu sĩ Công giáo không nằm trong cơ cấu phẩm trật, nhưng thuộc về cơ cấu đặc sủng liên quan đến sự thánh thiện của Hội Thánh. Tuy nhiên, có những giáo sĩ dòng (có lời khấn dòng) trước đó đã lãnh nhận chức linh mục. Do đó, các ngài thuộc hàng giáo sĩ, nhưng đồng thời cũng là tu sĩ sống theo linh đạo và dưới quyền bề trên của dòng mình.
3. NHẬN ĐỊNH
- Từ những gì đã nêu trên cho thấy căn tính của Đức Giêsu Kitô chính là khuôn mẫu tối cao và nguyên mẫu duy nhất để định hình căn tính, đời sống và sứ vụ của giáo sĩ và tu sĩ trong Giáo hội. Và vì Chúa Giêsu là nguyên mẫu tối cao và duy nhất, do đó quy chiếu, trở về với Đức Kitô sẽ điều chỉnh những gì chúng ta hiểu về mình.
Trong Tin Mừng, Thánh Giuse và Mẹ Maria đều được gọi là cha mẹ của Chúa Giêsu: “Cha mẹ Hài Nhi Giêsu” (Lc 2, 27); “Hằng năm cha mẹ Đức Giêsu lên Giêrusalem mừng lễ Vượt Qua” (Lc 2. 41); “Kìa cha con và mẹ đây đã đau khổ tìm con” (Lc 2,48). Vậy nên việc gọi cha mẹ của linh mục và tu sĩ là ông bà cố hoàn toàn dựa vào phong tục dân gian, không phát xuất từ truyền thống của Giáo hội. Thật ra, phong tục dân gian Việt Nam gọi ông bà cố là bậc sinh thành ông bà nội, ông bà ngoại của mình. Còn việc gọi cha mẹ của linh mục và tu sĩ là ông bà cố hoàn toàn chỉ có ở Việt Nam. Các nước khác không có cách gọi này. Philippines - một Giáo hội thuộc vùng Đông Nam Á như Việt Nam chúng ta - khi cha của Đức Hồng y Tagle qua đời, các trang đưa tin vẫn dùng cụm từ “cha của Đức Hồng y”:
* Cardinal Tagle’s father dies at 96
https://cbcpnews.net/cbcpnews/cardinal-tagles-father-dies-at-96/
*Manuel Tagle, father of Cardinal Luis Antonio Tagle, dies
https://www.manilatimes.net/2026/09/06/news/manuel-tagle-father-of-cardinal-luis-antonio-tagle-dies/2419361
*Pope Leo XIV offers condolences to Cardinal Tagle over father’s death
https://www.pna.gov.ph/articles/1283584
Đời sống hôn nhân là một ơn gọi, cũng giống như đời sống tu trì là một ơn gọi. Cha mẹ vừa là ơn gọi vừa là sứ mạng, hai yếu tố này gắn kết chặt chẽ và không thể tách rời, đó là ơn gọi và sứ mạng đã được thiết định. Có thể ví von ơn gọi và sứ mạng làm cha mẹ giống ID định danh cho những người đã có con, có thể là linh mục, tu sĩ, kỹ sư, bác sĩ, nông dân, công nhân…[1]. Tiếng gọi cha mẹ trong đời sống người Việt mình thiêng liêng lắm, nặng nghĩa nặng tình lắm: Ơn cha nặng lắm ai ơi/ Nghĩa mẹ bằng trời chín tháng cưu mang; Đêm khuya trăng rụng xuống cầu/ Vì con cha mẹ dãi dầu nắng mưa; Bao năm gian khổ héo hon/ Mẹ luôn cam chịu nuôi con nên người; Đi khắp thế gian không ai tốt bằng mẹ/ Gánh nặng cuộc đời không ai khổ bằng cha; Công cha như núi ngất trời/ Nghĩa mẹ như nước ở ngoài biển Đông. Đẹp vậy, thiêng liêng vậy, thì tại sao chúng ta không cứ gọi như cách phải gọi là “cha của linh mục A…”, “mẹ của nữ tu B…”, dùng chi một từ không thể hiện rõ ý nghĩa, và cũng không mang tính thống nhất giữa các miền, lại càng không có trong những thuật ngữ của Hội Thánh?
Tất cả chúng ta đều phải sống đạo theo cung cách của Tin Mừng, sống giản dị, khó nghèo, yêu thương, tình nghĩa, để không làm suy giảm giá trị Tin Mừng cứu độ, nói cách khác là không làm lu mờ hình ảnh của Giáo hội. Chỉ có “Chúa Giêsu là mặt trời soi đàng công chính. Chúa Giêsu là Con Đức Bà Maria đồng trinh. Thương xót chúng con”. [2]
1 Khi đã có con (a,b,c), mặc dù cha mẹ không chung sống với nhau nữa thì vẫn gọi là cha mẹ của a,b,c…
2 Sách Mục Lục, Imp. De la Mission Quinhon 1925, Kinh cầu Tên Rất Thánh Đức Chúa Giêsu, trang 28.
LM GIOAN VÕ ĐÌNH ĐỆ
Bình luận