Cuốn sách “Mục lục phân tích tạp chí Nam Phong” của học giả Công giáo Nguyễn Khắc Xuyên xuất bản lần đầu năm 1968 (sau này NXB Thuận Hóa có tái bản), đã giúp rất nhiều cho việc nghiên cứu tạp chí Nam Phong (1917 - 1934) mà Chủ bút kiêm quản lý là Phạm Quỳnh (1892 - 1945). Sách chia làm hai phần : 1) Mục lục theo tác giả và 2) Mục lục theo bộ môn.
Học giả chia Mục lục theo bộ môn ra 14 đề mục: Báo chí Nam Phong, triết học, tôn giáo, xã hội, chính trị, kinh tế... Trong mục Tôn giáo, ông viết : “Không kể Khổng giáo và Lão giáo mà chúng tôi đã xếp vào mục Triết học Ðông phương. Tôn giáo ở đây được quy tụ vào những tôn giáo cố hữu của dân tộc, nhất là Phật giáo... Sau Phật giáo thì đến các nghi lễ cố hữu của người dân Việt như: hôn lễ, tang lễ, tế Giao, tế tự... Tuy nhiên cũng có một bài giới thiệu Hồi giáo (số 31) của Hồng Nhân, còn tuyệt nhiên không có ai, không có bài giới thiệu một tôn giáo rất phổ biến tại Âu châu và trên thế giới: Cơ Ðốc giáo hay Thiên Chúa giáo. Chúng tôi cố lượm lặt và tạm kể việc Giáo hoàng ban bội tinh cho Quận công Nguyễn Hữu Bài (Số 1) như một vết tích Công giáo. Chúng tôi tự hỏi: Phải chăng người ta đã làm việc sao nhãng lớn lao này vì cái tinh thần bài xích và phản đối Cơ Ðốc giáo của Âu châu, đúng hơn Pháp quốc, thời đó ?”[1].
Có lẽ vì khối lượng bài vở quá lớn lao, tác giả chỉ có thể kiểm kê các đầu bài ghi dưới Yếu Mục in ngoài bìa mỗi số tạp chí và chỉ đọc nội dung một số bài hạn chế, nên đã có lời lẽ phiền trách như trên. Sự thật, trong nhiều bài khảo cứu hoặc thông tin, tạp chí Nam Phong mà chủ yếu là Phạm Quỳnh đã có thái độ rất trân trọng và kính nể đạo Công giáo. Có thể kể ra mấy thí dụ, nhưng chí xin trích dẫn ba đoạn tiêu biểu sau đây.
1. Phạm Quỳnh: Công giáo là đạo của từ bi bác ái

Trong bàiBàn về văn minh học thuật nước Pháp, Phạm Quỳnh nhận định vai trò đạo Thiên Chúa:
“Nước Pháp từ xưa đến nay vẫn lấy đạo Thiên Chúa La Mã làm quốc giáo. Ðạo Thiên Chúa thực đã có một phần to trong sự gây dựng ra nước Pháp, trong sự giáo hóa người dân Pháp, mà nước Pháp, người Pháp, từ đời Trung cổ đến giờ, cũng có công to với Giáo hội, xưa đã được tiếng gọi nước Pháp là con gái trưởng của Giáo hội. Như thế, thì đạo Thiên Chúa thực là có thánh khí với người Pháp, có cái nhân duyên sâu xa với dân Pháp vậy.
Vậy thì đạo Thiên Chúa ở nước Pháp có cái đặc tính gì ? Chắc rằng cái giáo thống, cái quy tắc trong đạo thì ở nước nào cũng vậy. Nhưng đại để cùng một đạo ở mỗi nước cũng có khác nhau nhiều. Như đạo Thiên Chúa ở nước Ý Ðại Lợi thì thiên trọng cái bề mỹ thuật, đạo Thiên Chúa ở nước Tây Ban Nha thì thiên trọng cái bề thần bí. Ðến như đạo Thiên Chúa ở Pháp thì thiên trọng cái bề xã hội vậy. Cụ (Giám mục) Boussuet đã giải đạo Thiên Chúa là các giây liên lạc trong xã hội, không những là liên lạc người một đời với nhau, mà lại liên lạc cả người đời này với người đời trước, với người đời sau nữa, không những là liên lạc người một nước với nhau, mà liên lạc cả người nước nọ với người nước kia, hết thảy cả người trong thế giới nữa. Cái hy vọng của đạo Thiên Chúa ở nước Pháp không những là muốn gây thành một cái đoàn thể thuộc về tinh thần ở trong cái đoàn thể quốc gia; lại còn muốn khuếch trương cái đoàn thể ấy ra khắp thế giới mà mà dựng nên như trong Kinh Thánh gọi là các thiên quốc (la Cité de Dieu) ở trong thiên hạ… Nhà tôn giáo nước Pháp lấy cái nhẽ phải thông thường mà vụ những điều cốt yếu; lòng tín ngưỡng bình dị mà không tần phiền; rất hiếu những cảnh thực trong lòng người nhiệt thành muốn truyền cái lòng tin của mình cho người khác; nhất là khao khát cái lòng từ bi bác ái vậy[2].
Với một người ngoài Công giáo như Phạm Quỳnh, không nên đòi ông phải có nhiều thiên nghiên cứu thần học hay giáo lý. Viết được phần trên - đã thu ngắn còn một nửa - Phạm Quỳnh đâu có “sao nhãng lớn lao… vì cái tinh thần bài xích và phản đối Cơ Ðốc giáo của Âu châu, đúng hơn là Pháp quốc thời đó” !
2. Nam Phong giới thiệu Thánh giáo tuần báo Bắc Kỳ (Semaine religieuse du Tonkin). In tại nhà in Ngô Tử Hạ, Hà Nội. Mỗi tháng ra hai kỳ. Giá đồng niên 2$; nửa năm 1$, mỗi số 0$10.
Trong mục Thời Ðàm, Nam Phong số 39 (tháng 9-1920) có bài giới thiệu - không ký tên tác giả, có lẽ là Phạm Quỳnh - tuần báo Công giáo Hà Nội như sau:
Thánh giáo tuần báo Bắc Kỳ là một tập tạp chí của Nhà Chung (không phải Trung, NÐÐ) mới xuất bản tại Hà Nội, số đầu ra ngày 15.7.1920. Ngày nay phong trào làm báo làm sách đương thịnh hành trong nước, các bổn đạo Thiên Chúa giáo cũng phải có một tập báo riêng để truyền dạy những điều bổn đạo cần phải biết về tôn giáo. Chắc đó là chủ ý của Nhà Chung đã phát hành ra tạp chí này. Tạp chí để riêng cho các bổn đạo, nên trong chỉ thuần giảng về việc tôn giáo, mà giáo lý thời mầu nhiệm, cho nên người ngoài xem có lẽ cũng khó. Thiết tưởng Thiên Chúa giáo là một đạo rất hay trong thế giới, các nước văn minh phần nhiều theo cả, những giáo lý huyền diệu các bổn đạo nên biết đã cố nhiên rồi, nhưng cũng nên để cho người ngoài biết thiệp liệp qua những điều cốt yếu. Nay Nhà Chung đã mở ra tạp chí này, nên mở rộng phạm vi cho không những người bổn đạo xem được, mà người ngoài cũng có thể đọc được, như thế thời lại càng ích lợi biết bao… Trong tạp chí cũng nên để một phần giảng về các khoa học phổ thông giúp cho sự giáo dục trong nước…
Trong mấy số đầu, có mấy bài của cố Chính Linh hay. Nhưng thứ nhất là trong số 3, có một mục đề là Minh giáo xích độc, lời lẽ thông thoát, ý tứ sâu xa, không những người bổn đạo mà người ngoài đọc cũng có tì ích. Mục này đặt theo thể xích độc, giả thiết một người học trò ở Hà Nội viết thơ về linh mục hỏi han những nghĩa lý về đạo, linh mục trả lời lại, giảng giải rõ ràng, chứng dẫn cả các kinh truyện cũ của ta, đọc kỹ cùng có cái đạo vị thâm trầm vậy. Mục này ký tên là NGHIÊM GIA, tức là biệt hiệu của Cố Huệ ở Phú Nghĩa (Sơn Tây). Cố là một người rất thông hiểu tiếng ta và chữ Hán, nên giọng văn đã hệt với giọng ta lắm, tưởng người Tây ít người nhập điệu được tiếng ta như vậy”[3].
Nam Phong giới thiệu Tuần báo Công giáo với lời lẽ trân trọng và tích cực như thế, thử hỏi đã bao giờ chúng ta giới thiệu một tạp chí ngoài Công giáo với thái độ tương đương. Nam Phong không hề chịu ảnh hưởng - qua một số khá nhiều bài của Nam Phong và đặc biệt là Phạm Quỳnh mà kẻ viết bài này đã đọc - “cái tinh thần bài xích và phản đối Cơ Ðốc giáo của Âu châu”.
3. Nam Phong giới thiệu sách Nguồn gốc tiếng Việt của Cố Thi
Cố Thi (Souvignet) xuất bản sách Nguồn gốc tiếng An Nam (Les origines de la langue annamite) bằng Pháp ngữ, do nhà in Viễn Ðông - Hà Nội ấn hành năm 1920. Cũng trong Nam Phong số 39 có bài giới thiệu khá dài và trân trọng, xin trích dẫn như sau:
“Cố Thi ở Phủ Lý là một người rất thâm hiểu tiếng An Nam ta, mới xuất bản một tập sách khảo về cỗi rễ tiếng An Nam. Tập này mới là tập thứ nhất một bộ sách to lắm hiện đương in chưa xong. Khảo cổ về cỗi rễ tiếng An Nam, thật là một vấn đề khó thay! Vì tiếng An Nam xưa nay không có kinh điển gì, nước ta vốn không có một thứ chữ riêng, nên không có sách vở gì bằng quốc âm tự hai ba trăm năm trước còn lại, như thế thì lấy gì làm chứng cớ rằng tiếng ta từ xưa đến nay thay đổi thế nào, và trong sự thay đổi ấy đã chịu ảnh hưởng những tiếng nước ngoài thế nào. Hiện nay chỉ có một quyển sách là còn thể xét được tình trạng tiếng ta vào khoảng ba trăm năm về trước: là sách Tự điển của Cố Alexandre de Rhodes là người sang giảng đạo nước ta từ thời Lê và là người đã sáng lập ra chữ quốc ngữ...
Cố Thi trong sách này phần nhiều là lấy hiện trạng tiếng An Nam mà so sánh với tiếng nói các dân tộc chung quanh, chớ không phải là khảo cứu theo phương diện lịch sử. Cứ ý kiến thông thường của người ta thời ai cũng cho tiếng ta là phần nhiều do tiếng Tàu mà ra... Nay tác giả xét ra tiếng Tàu chỉ có một phần, mà không phải là phần gốc của tiếng ta... Ngoại giả, còn nhiều các thứ tiếng khác hỗn hợp lại mà thành ra tiếng ta, thứ nhất là tiếng Mã Lai, rồi đến tiếng Tày (Thái), tiếng Mên, tiếng Tagal,... và nhiều các tiếng khác ở Ấn Ðộ và Nam Dương quần đảo. Theo ý tác giả thời “tiếng An Nam là một tiếng gốc Ấn Ðộ hay Mã Lai mà có ghép tiếng Tàu vào sau”...
Nay Cố Thi đã dụng công khảo cứu rộng như vậy, ta cũng nên biết công cho người; và nếu người gỡ được manh mối cỗi rễ tiếng ta thật rõ ràng đích đáng, thời bọn ta cũng nên cảm ơn người, vì đã giúp ta biết được cái nguồn gốc xa xôi của quốc âm ta vậy”[4].
Với ba đoạn lược trích như trên trong số hàng chục đoạn văn cổ liên quan đến Công giáo thật trân trọng và thiện ý, chúng ta không thể cho rằng Nam Phong “đã làm việc sao nhãng lớn lao” đối với những vấn đề thời sự Công giáo. Vậy cái gì của Xêda hãy trả cho Xêda và...
NGUYỄN ÐÌNH ÐẦU
1 Nguyễn Khắc Xuyên, Mục lục phân tích tạp chí Nam Phong. NXB Thuận Hóa - Trung tâm Văn hóa Ngôn Ngữ Ðông Tây - Huế - Hà Nội, 2002. Trang 26.
2 Phạm Quỳnh, Bàn về văn minh học thuật nước Pháp. Nam Phong số 1, tháng 7.1917. Hà Nội, 1917. Trang 14-15.
3 Mục Thời Ðàm, Thánh giáo tuần báo Bắc Kỳ. Nam Phong số 39, tháng 9.1920. Trang 259-260.
4 Mục Giới Thiệu Sách, Les origines de la langue annamite Nam Phong số 39, tháng 9.1920. Trang 259.
Bình luận