Bài 4: Đền Cha Thánh Năm và chuyện dòng họ Đỗ
4.1 Người Việt Nam đầu tiên theo Công giáo?
Ai là người Việt Nam đầu tiên theo Công giáo? - câu hỏi này có lẽ sẽ đánh động tâm trí của nhiều tín hữu, khi bề dày của giáo sử đã có thể tính bằng thế kỷ. Việc tìm ra vị tín hữu tiên khởi ấy không chỉ minh chứng cho sự hiện diện lâu đời của đức tin, mà còn góp phần khẳng định rằng lớp trầm tích văn hóa Công giáo đã đủ thời gian để thấm sâu và trở thành một phần của văn hóa bản địa.

Năm 1941, trên tập san Những người bạn của Huế xưa (Bulletin des Amis du Vieux Hué - thường được biết đến với tên Hán Việt là Đô Thành Hiếu Cổ Xã, 即都城好古社), linh mục Constant Poncet MEP (1882-1969), lúc bấy giờ là Phó Đại diện Tông tòa kiêm Chánh xứ Chánh tòa Thanh Hóa, đã công bố một bài viết với tiêu đề đầy cẩn trọng: “Một trong những người An Nam đầu tiên, nếu không phải là người đầu tiên, cải đạo sang Công giáo” (L’un des premiers Annamites, sinon le premier, convertis au catholicisme). Qua cuốn gia phả cổ của dòng họ Đỗ tại làng Bồng Trung (thuộc xã Biện Thượng, Thanh Hóa ngày nay), cha Poncet đã tìm thấy những thông tin sơ lược về cụ Đỗ Hưng Viễn - một người được rửa tội từ thời vua Lê Anh Tông (1556-1573). Dù thiếu vắng thông tin chi tiết và bối cảnh cụ thể, những dòng ghi chép ngắn ngủi ấy là bằng chứng sớm nhất bằng văn bản về một người Việt Nam theo Công giáo.
Kể từ sau phát hiện ấy, các văn bản giáo sử dần ghi nhận cụ Đỗ Hưng Viễn là người Việt Nam đầu tiên theo Công giáo, và nhiều tín hữu đã thuộc nằm lòng như vậy. Nhưng văn bản gốc ghi chép thế nào, các lập luận của thừa sai Constant Poncet ra sao, thì lại ít người biết rõ. Trong bài viết này, chúng ta sẽ cùng cẩn trọng xem xét cả bản dịch tiếng Pháp lẫn nguyên văn chữ Nho (Hán và Nôm) do linh mục Léopold Cadière - chủ bút tập san Những người bạn của Huế xưa - chép lại trong phần phụ chú, để hiểu vấn đề một cách rõ ràng và tường tận. Công việc này được chúng tôi tiến hành một cách cẩn trọng, theo gương cha Poncet khi đặt tiêu đề “Một trong những người An Nam đầu tiên, nếu không phải là người đầu tiên, cải đạo sang Công giáo”.
Trước tiên, trong tập san, linh mục Constant Poncet cho biết ở trang 18bis của cuốn Đỗ tộc Gia phả (杜族家譜) mà cha nhận được từ các giáo dân làng Bồng Trung có phần nội dung mà cha dịch sang tiếng Pháp như sau:
Branche cadette. - De nouveau, septième génération: - L’aïeul, [de la famille] Đỗ, Son Excellence Biểu; nom posthume: Mĩ-Chân le Sage; titre Trúc-Lâm le Maître;
[Qui], en la 7e année [de la période] Chính-Trị [1564], aux concours régionaux de Kỷ-Dậu, fut reçu Cống-Sanh;
[et qui] en la 15e année [de la période] Chính-Trị [1572], par diplôme de l’Empereur, reçut [les titres de] Serviteur méritant ayant rempli complètement tous ses devoirs [envers le Souverain] et épuisé ses forces [pour le service de l’Etat]; ayant été promu exceptionnel lement: Grand homme, avec dorures et pourpre [au diplôme], aux appointements prospères; Examinateur et Juge pour l’intégrité au Ministère de l’Intérieur; Baron de Lương-Khê.
C’est le troisième fils de Trung-Kỉnh. Sa mère, de la famille Dương, avait le titre de Từ-Ái. Il engendra trois fils. Son tombeau est situé au quartier de l’éminence Cổ-Ngựa. Son jour anniversaire est le 7e jour de la 10e lune. Le tombeau de la femme secondaire se trouve au quartier de l’éminence Xương. Son jour anniversaire est le 26e jour de la 4e lune.
Son premier fils est Viên-Đức. Son second fils est Hưng-Viễn. Il suivit la religion Hoa-lang.
Để tiện cho độc giả tiện so sánh và đối chiếu, chúng tôi tạm dịch sang tiếng Việt:
Dòng thứ. Lại nói, đời thứ bảy: Cụ tổ, [thuộc] họ Đỗ, ngài Biểu; tên sau khi mất: Mỹ - Chân hiền triết; danh hiệu bậc thầy Trúc Lâm.
[Ông], vào năm thứ 7 [niên hiệu] Chính-Trị [1564], tại kỳ thi địa phương năm Kỷ Dậu, đỗ Cống-sanh.
[Ông], vào năm thứ 15 [niên hiệu] Chính-Trị [1572], theo sắc lệnh của hoàng đế, được phong các tước hiệu: bề tôi có công, đã hoàn thành trọn vẹn mọi nghĩa vụ [đối với vua] và đã tận lực cống hiến [cho nước nhà]; được thăng đại phu, vàng và tía [trên văn bằng], cùng bổng lộc hậu hĩnh; Quan thẩm tra và giám sát sự liêm chính của Bộ lại; Nam tước Lương-Khê.
Là con trai thứ ba của Trung-Kỉnh. Mẹ ông họ Dương, hiệu Từ-Ái. Ông có ba người con trai. Mộ của ông ở gò Cổ-Ngựa. Kỷ niệm ngày mồng 7 tháng 10 Âm lịch. Mộ của người vợ thứ đặt tại gò Xương. Kỷ niệm ngày 26 tháng 4 Âm lịch.
Con trai cả là Viên-Đức. Con trai thứ hai là Hưng-Viễn. Ông này theo đạo Hoa-lang.
Chỉ với câu cuối cùng “Il suivit la religion Hoa-lang” tức “Ông này theo đạo Hoa-lang” cũng đủ để làm một câu trả lời khiến nhiều người thỏa mãn, rằng cụ Đỗ Hưng Viễn chính là người Việt Nam đầu tiên theo Công giáo. Nhưng như thế có phần hơi vội vàng vì Hoa-lang có thể không tương đồng với Công giáo hay Thiên Chúa giáo. Đồng thời, việc đọc một văn bản Hán Nôm được dịch sang tiếng Pháp rồi lại từ tiếng Pháp sang Quốc ngữ hẳn sẽ có nhiều sai lệch hoặc không rõ ý. Vậy nên, chúng tôi đã tìm lại văn bản gốc, tiến hành biên dịch và lần theo những lập luận của cha Poncet để hiểu vấn đề thật tường tận.
Trong phần phụ chú của bài viết “Một trong những người An Nam đầu tiên, nếu không phải là người đầu tiên, cải đạo sang Công giáo”, linh mục Léopold Cadière đã chép lại nguyên văn bằng chữ Nho đoạn thông tin này từ Đỗ tộc gia phả, đánh số là Texte 3 trong phụ chú thứ 26. Chúng tôi xin ghi lại kèm phiên âm:

KỲ PHONG
Bình luận