Mới chập chững bước vào nghề báo, tôi ôm theo nguyên vẹn những bỡ ngỡ của tuổi đôi mươi, và đôi khi là cả sự hoài nghi về khả năng của chính mình. Tôi từng nghĩ viết lách là phải tìm kiếm những điều gì đó thật to tát, những góc nhìn sắc sảo, hay những chuyến đi dài ngập tràn trải nghiệm. Nhưng rồi một buổi chiều tĩnh lặng, bài học lớn về cuộc đời và trang viết lại đến với tôi theo cách dịu dàng nhất.
Tôi nhận cuốn sách ấy, sau buổi phỏng vấn một vị linh mục - người đã dành phần lớn đời mình để lặng lẽ đồng hành và gieo ánh sáng hy vọng cho những trẻ em khiếm thị. Trước khi tôi xếp lại sổ bút ra về, cha mỉm cười, trao vào tay tôi một quyển sách còn thơm mùi mực mới “Hành trình sáng tạo chữ Quốc ngữ” (Lời: Phạm Thị Kiều Ly, Minh họa: Tạ Huy Long). Cha vỗ nhẹ bàn tay gầy gộc lên tay tôi, dặn ngắn gọn: “Hãy luôn cười vui vẻ nha con, cứ vui trước đã con. Cha có quyển sách tặng cho con, hy vọng con sẽ thích”.
Thú thật, ban đầu tôi nâng niu cuốn sách đơn thuần vì đó là món quà của một linh mục cao niên hiền hậu. Nhưng khi lật mở từng trang sách trong không gian tĩnh lặng của buổi tối, tôi mới ngơ ngác và vỡ òa trước một thế giới lịch sử vừa sống động, vừa tràn đầy thấu cảm. Qua lời kể ngắn gọn của Tiến sĩ Phạm Thị Kiều Ly, cùng những nét vẽ hoài cổ, tinh tế từ họa sĩ Tạ Huy Long, lịch sử hình thành chữ Quốc ngữ không còn là những cột mốc khô khốc trên trang sách giáo khoa. Đó là một thiên tiểu thuyết bằng hình ảnh và ngôn từ về đức tin, về khát vọng kết nối giữa những con người hoàn toàn xa lạ.

Tôi dừng lại khá lâu ở những khung hình tả cảnh cha Đắc Lộ cùng các vị thừa sai miệt mài ngồi lắng nghe từng âm vực của người Việt, tỉ mỉ ghi chép từng thanh điệu trầm bổng của một thứ tiếng nói mà lúc đầu họ ví như “tiếng chim hót”. Nhìn những ký tự Latinh đầu tiên được ghép lại để phôi thai nên loại chữ mà chúng ta đang viết hằng ngày, tôi chợt hiểu ra chữ Quốc ngữ không chỉ là sản phẩm của tri thức hay học thuật thuần túy, mà còn được vun đắp, phôi thai từ sự thấu cảm, từ mong muốn bắc một chiếc cầu nối giữa những tâm hồn hoàn toàn xa lạ về văn hóa và ngôn ngữ. Sự kiên trì của những linh mục và những người Việt thầm lặng giúp sức năm xưa, những con người đã vượt muôn dặm trùng dương đến vùng đất này, dùng tình yêu chân thành để thắp lên ánh sáng của tri thức và ngôn ngữ, sao mà gần gũi với hình ảnh vị linh mục già chiều hôm đó - người cũng đang miệt mài gieo ánh sáng của niềm tin và sự sẻ chia cho những đôi mắt không nhìn thấy mặt trời. Tất cả đều là những người chọn cách bước qua rào cản để bắc một chiếc cầu nối giữa những tâm hồn.
“Cứ vui trước đã con”, câu nói đơn sơ của cha cứ vang vọng mãi trong tâm trí tôi suốt nhiều ngày sau, khi tôi lật tới trang sách cuối cùng. Lời động viên ấy như một dòng nước mát lành xua tan đi những lo âu, áp lực của một kẻ mới tập tễnh bước vào đời, vào nghề. Đúng vậy, dù là đức tin, ngôn ngữ hay những trang viết đầu đời của tôi, tất cả suy cho cùng cũng đều hướng về việc kết nối và mang lại sự ấm áp cho con người. Tôi xếp lại cuốn sách, lòng dạt dào một niềm biết ơn khôn tả. Cảm ơn cha đã trao cho tôi một “ngọn lửa” nhỏ. Cảm ơn những người đi trước đã dấn thân và gieo mầm, để hôm nay chúng ta có một thứ tiếng Việt đẹp đẽ đến thế.
Quỳnh Giao
Bình luận