Từ ngã tư An Sương chạy theo quốc lộ 22 hướng về Tây Ninh khoảng 20 cây số là tới xã Tân Thông Hội (nay là xã Củ Chi, TPHCM), nơi đây nổi tiếng với nghề làm mành trúc với tuổi đời đến nay đã hơn 50 năm.

Một làng nghề lâu năm
Theo lời kể của các cụ cao niên, nghề làm mành trúc ở Tân Thông Hội bắt đầu bén rễ từ sau năm 1975. Ban đầu, nghề xuất hiện tại khu vực xã Trung Chánh, huyện Hóc Môn (cũ) rồi dần lan về vùng Củ Chi. Vào thời điểm đó, quỹ đất còn rộng, cây trúc mọc bạt ngàn đã trở thành nguồn nguyên liệu sẵn có dồi dào. Từ những khởi đầu nhỏ lẻ trong các hộ gia đình, nghề làm mành trúc từng bước thành hình, gắn bó với đời sống người dân địa phương suốt nhiều thập niên.
Giai đoạn từ năm 1978-1988 được nhiều người thợ nhắc lại như thời kỳ “hoàng kim” của làng nghề. Các hộ sản xuất hoạt động dưới mô hình hợp tác xã, nên sản phẩm sản xuất đều đặn, đầu ra ổn định, nhiều gia đình sống được nhờ mành trúc. Sau khi hợp tác xã giải thể, người dân tự xoay xở tìm kiếm thị trường. Nếu như nhiều năm trước, vùng này có 5 cơ sở quy mô lớn, thì 5 năm trở lại đây, quy mô các xưởng ngày càng thu hẹp. Hiện tại chỉ duy nhất xưởng Thanh Trúc còn hoạt động. Đây là nơi tập kết nguyên liệu, thực hiện những công đoạn kỹ thuật phức tạp và xuất khẩu mành. Bao quanh cơ sở này là hơn 400 hộ gia đình làm hàng gia công tại nhà, tạo nên một mạng lưới sản xuất rộng khắp trong khu vực. Chị Lê Thị Hải (51 tuổi), người gắn bó với nghề hơn 35 năm, vừa làm vừa kể: “Mành bây giờ chủ yếu làm theo đơn đặt hàng để xuất khẩu, thường dùng để trang trí nội thất trong nhà hàng, khách sạn. Thời điểm gần Tết thì cũng có nhiều người mua lẻ để về tân trang lại nhà cửa”.
Cũng theo chị Hải, những năm đầu, nghề phát triển mạnh nhờ nguồn trúc tại chỗ dồi dào. Nhưng hiện nay, diện tích trồng trúc ở Củ Chi ngày càng ít dần, các cơ sở phải mua nguyên liệu từ Long An, Tây Ninh, thậm chí xa hơn như An Giang để duy trì nguồn hàng, nên giá đầu ra cũng từ đó tăng theo.
Chuyện nghề, chuyện người
Để hoàn thành một tấm mành trúc, người thợ phải trải qua nhiều công đoạn tỉ mỉ. Đầu tiên là khâu chọn nguyên liệu: trúc phải già, thân tròn đều, ít mắt và không sâu mọt. Độ già của trúc quyết định độ bền, giúp sợi mành ít bị co ngót dưới tác động của nhiệt độ. Trúc sau khi hạ xuống sẽ được cắt thành từng đoạn ngắn đồng đều, dài khoảng 5,5-6cm, tùy độ lớn từng tấm mành.
Những đoạn trúc thô này được đưa vào lò quay cùng với cát mịn. Anh Trần Văn Chuyền (46 tuổi), thợ lâu năm tại xưởng, giải thích: “Lò quay tạo ra ma sát liên tục giữa cát và ống trúc, bào mòn lớp lụa bên ngoài, làm ống trúc nhẵn bóng và dễ bám sơn khi vẽ”. Tiếp theo, trúc được ngâm trong dung dịch chuyên dụng hoặc dầu lửa từ hai đến ba ngày để chống mối mọt và tăng độ dẻo dai. Khi đạt yêu cầu, lại được phơi nắng hoặc sấy khô để tránh ẩm mốc.
Các đoạn trúc khô sau đó được xâu lại bằng kẽm. “Phải xâu sao cho các dây trúc thẳng đều, không lệch hàng. Sau đó mới kết các dây lẻ lại thành tấm mành hoàn chỉnh”, chị Hải cho biết. Trong toàn bộ quy trình, “vô trúc” là khâu nặng nhọc và tiêu tốn nhiều sức lực nhất. Lúc này, các dây trúc đơn lẻ được đưa lên trục dệt để kết thành tấm lớn. Người thợ phải dùng kềm xoay chặt các đầu dây kẽm với một lực siết vừa đủ tay. Nếu siết quá chặt, mành sẽ cứng và dễ gãy khi cuộn; ngược lại, nếu lỏng tay, mành dễ bị xệ khiến tranh vẽ sau này bị méo mó. Thông thường, một tấm mành tiêu chuẩn kết từ 100-120 dây, mỗi dây dài chừng 2m, nhưng kích thước này có thể tùy biến linh hoạt theo đơn đặt hàng.
Điểm làm nên nét riêng của mành trúc Tân Thông Hội là kỹ thuật vẽ thủ công. Những người thợ dùng miếng xốp thấm sơn để chấm trực tiếp lên từng ống trúc. Vì bề mặt trúc hình trụ, rất khó tạo nét liền mạch, đòi hỏi người vẽ phải vừa chấm màu vừa điều tiết độ đậm nhạt để tạo chiều sâu cho bức tranh. Có một điểm khác biệt và khó làm nếu không quen vẽ mành trúc, đó là bức tranh vẽ trên một bức mành phải nhìn được cả hai mặt. Sơn sử dụng là loại sơn dầu chuyên dụng, bám chắc và ít phai. Chủ đề tranh trên mành khá đa dạng, tùy theo thị trường và yêu cầu của khách. Phổ biến nhất là tranh phong cảnh và văn hóa Việt Nam như đồng quê, mái đình, con trâu, lễ hội dân gian… Đây là dòng sản phẩm chủ lực cho khách du lịch và thị trường xuất khẩu yêu thích nét Á Đông. Ngoài ra, các mẫu thư pháp với các chữ Phúc, Lộc, Thọ, câu đối…, cũng bán rất chạy trong dịp Tết.
Dù có sức sống bền bỉ, làng nghề mành trúc Tân Thông Hội hôm nay vẫn đối mặt với nỗi lo thiếu người kế nghiệp. Theo chị Hải, hơn 10 năm qua, rất ít người trẻ theo học nghề này. Phần lớn thợ lành nghề hiện đã ở tuổi trung niên hoặc cao niên, trong khi những công đoạn khó như vẽ tranh hay vô trúc cần nhiều năm rèn luyện mới thành thục, khiến việc truyền nghề càng trở nên khó khăn.
Giữa đổi thay của đời sống và lựa chọn nghề nghiệp, những người thợ dệt mành vẫn miệt mài bên trong các khu xưởng. Nghề này tồn tại cũng là nhờ những đôi tay thuần thục riết mà thành nếp. Mai này, khi lớp thợ già dần rời khung mành, liệu những sợi trúc kia có còn được đan kết, hay sẽ chỉ nằm đó, chơi vơi…
Anh Thư
Bình luận