Khi cộng tác dài hạn với một trung tâm nha khoa thẩm mỹ, tôi có dịp tiếp xúc với nhiều nữ tu đến khám và lấy vôi răng. Cao răng thường có màu trắng hoặc vàng quanh cổ răng, chủ yếu do vệ sinh răng miệng kém hoặc chưa đúng cách. Trong khi đó, cao răng huyết thanh nằm dưới nướu lợi lại là hệ quả từ tình trạng căng thẳng tâm lý (stress). Theo hồ sơ điều trị, các tu sĩ bị loại cao răng thứ hai này rất nhiều. Tìm hiểu sâu hơn, nguyên nhân thường đến từ những áp lực và căng thẳng kéo dài.
Đó là áp lực trong nhiều mối tương quan: các mâu thuẫn lặt vặt nhưng dai dẳng trong đời sống cộng đoàn chưa được giải quyết thỏa đáng, sự mệt mỏi trong hoạt động mục vụ, gánh nặng trách nhiệm trong sứ vụ khi chưa được đào tạo bài bản khiến họ bị đuối sức, mệt mỏi, bất lực. Bên cạnh đó là tâm lý phải giữ sự hoàn hảo, làm bao nhiêu vẫn thấy chưa đủ, dẫn đến ôm đồm công việc. Nhiều người phải gồng mình xây dựng hình ảnh “đạo đức”, “người giàu đức tin”, “con cái của sự sáng”, nên không thể thừa nhận sự yếu đuối của bản thân.
Áp lực tâm lý này thường rơi vào thời điểm sức khỏe thể lý bắt đầu xuống dốc (khủng hoảng kép): khủng hoảng vỡ mộng (sốc văn hóa), khủng hoảng tuổi 40, tiền mãn kinh, xế chiều, hoặc trước cái chết được báo trước... Khi bản thân đối mặt với mất mát, bệnh tật mạn tính, hoặc các biến cố trong Giáo hội, đời sống tinh thần và đức tin rất dễ chao đảo. Không thể không kể đến cảm giác cô đơn, thiếu sự đồng cảm ngay giữa các chị em cùng dòng: làm sai thì bị phê bình nhưng làm tốt lại không được ghi nhận; bản thân hoặc gia đình có tiền sử bệnh trầm cảm; bị tẩy chay, cô lập; hoặc những ký ức buồn bị gợi lại như tổn thương do bị bỏ rơi, bị lạm dụng tình cảm hay tình dục trong quá khứ...
Sống trong tình trạng stress liên tục sẽ làm gián đoạn việc sản xuất các chất dẫn truyền thần kinh như dopamine, serotonin. Hậu quả là rối loạn giấc ngủ, tổn thương não, mất điều hòa miễn dịch và gây viêm. Một khi căng thẳng quá mức kéo dài mà không có giải pháp xoa dịu hay hỗ trợ tâm lý, cộng với hệ thần kinh suy kiệt năng lượng và các yếu tố dễ tổn thương khác (di truyền, bất thường hóa chất não bộ, sang chấn tâm lý lớn), phiên bản cuối cùng sẽ là rối loạn trầm cảm.
Theo các thống kê nhân Ngày Sức khỏe Tâm thần Thế giới (10.10.2026), hiện có hơn 280 triệu người trên toàn thế giới đang sống chung với trầm cảm, và khoảng 1/4 dân số thế giới từng trải qua một dạng rối loạn tâm thần. Trầm cảm không phải là căn bệnh tự nhiên hay phần tất yếu của con người, mà là căn bệnh của nền văn minh hiện đại - hệ quả từ lối sống công nghiệp áp lực cao, dẫn đến đáp ứng stress kéo dài của não bộ.
Các tu sĩ hoặc những người làm công việc phục vụ, tiếp xúc, chăm sóc/ tư vấn khách hàng dễ mắc chứng “trầm cảm cười”. Nhìn bên ngoài, họ có vẻ kiểm soát tốt cuộc sống, luôn vui vẻ, lạc quan, làm việc hiệu quả; nhưng bên trong lại đối mặt với nhiều bất ổn nội tâm và chọn cách “mỉm cười qua cơn đau”. Chính vì vậy, những dấu hiệu bệnh thường bị gia đình hoặc cộng đoàn bỏ qua, làm chậm trễ việc điều trị:
- Khi một nữ tu buồn bã kéo dài, rối loạn khí sắc, kiệt quệ năng lượng, cộng đoàn thường coi các biểu hiện ấy là “yếu đức tin”, “thiếu nhân đức”, “khô khan trong đời sống cầu nguyện” hoặc “bị quỷ nhập”, từ đó bỏ lỡ cơ hội giúp họ tiếp cận kịp thời với chuyên gia tâm lý hoặc bác sĩ tâm thần.
- Nhầm lẫn đồng trầm cảm với sự buồn chán, biếng nhác, nguội lạnh hay “bệnh tư tưởng”. Thay vì nâng đỡ tinh thần, cộng đoàn lại trách móc bệnh nhân thiếu lửa phục vụ.
- Các bệnh thể lý được hỗ trợ đi bệnh viện khám ngay, nhưng với người có vấn đề tâm lý, mọi người thường khuyên nên ráng chịu đựng và coi nỗi nặng nề đó như “vác Thánh Giá theo chân Chúa”.
- Khi một nữ tu mất quân bình, suy sụp tinh thần hoặc có lời nói, hành vi lệch chuẩn do khủng hoảng tâm lý, chị em trong cộng đoàn dễ đàm tiếu, phán xét, quy chụp và loại trừ, thay vì bao dung lắng nghe.
Bình luận