Về vùng Phụng Hiệp, tỉnh Hậu Giang trước đây, nay là xã Thạnh Hòa, thành phố Cần Thơ, hỏi xóm đũa Tân Long hầu như ai cũng biết. Từ chợ Cầu Trắng trên Quốc lộ 1A, rẽ phải vô con đường bê tông chạy dọc kênh Xáng Nàng Mau chừng hai cây số là tới ấp Phụng Sơn B. Với những vị khách lần đầu tìm đến, chỉ cần để ý trước cửa nhà người dân có những đống vụn tre được bào nhỏ từng sợi, chất cao như ụ rơm, là biết mình đã tới xóm nghề.

Chuyện của nghề
Người mang nghề về xóm đũa Tân Long là bà Mai Thị Ngân, người dân trong vùng quen gọi là bà Hai. Bà vốn quê ở Cái Răng, Cần Thơ, sau khi lập gia đình thì theo chồng về sinh sống tại ấp Phụng Sơn B. Bà Hà Thị Lượm (65 tuổi), một cư dân sống lâu năm tại đây nhớ lại: “Bà Hai đem nghề về rồi dạy cho con cái học theo, làm tới giờ. Lúc đầu chỉ vài nhà làm thôi, sau này thấy có thu nhập nên người ta tới học đông lắm”.
Lần theo lời chỉ dẫn của người dân, chúng tôi tìm đến nhà chị Tạ Thị Hoa, con gái bà Hai, người hiện vẫn gắn bó với nghề làm đũa của gia đình. Chị Hoa kể: “Khoảng năm 1980, má tôi học làm đũa từ bà ngoại, rồi đem cái nghề về đây, ban đầu làm để xài trong nhà, sau mới kiếm mối bán ra. Hồi đó cứ xong vụ lúa là cả nhà xúm lại vót đũa kiếm thêm”. Ban đầu chuốt đũa chỉ là việc làm lúc nhàn rỗi, nhưng theo lời chị Hoa: “Gia đình tôi làm khoảng hai năm thì bà con trong xóm thấy cũng có đồng ra đồng vô nên tới học theo. Rồi từ từ lan ra, xóm có lúc đông nhất lên tới cả trăm hộ cùng làm”.
Một điều thú vị là dù nhắc đến đũa tre, nhưng nguyên liệu ban đầu của làng nghề này lại không phải từ tre. Lúc nghề mới hình thành, người dân tận dụng thân cây cau già để làm đũa. Sở dĩ dùng cau vì thớ gỗ thẳng, khá cứng và có độ bóng tự nhiên. Sau này, khi cây cau trong vùng không còn nhiều, người dân bắt đầu tìm kiếm vật liệu thay thế. Đến khoảng thập niên 1990, các gia đình chuyển sang dùng tre xiêm, một giống tre phổ biến ở địa phương và có nhiều đặc tính phù hợp để sản xuất đũa. “Giống tre này tốt nhất trong các loại tre, chắc chắn, không bị mọt như tre mỡ, cũng không quá mềm như tre mạnh tông hay tre tàu”, chị Hoa lý giải.
Thật vậy, tre xiêm vùng Phụng Hiệp nổi tiếng với lóng dài, thịt tre dày và chắc. Nhờ thế, đũa có độ bền cao, ít bị mối mọt. Những người thợ lâu năm cho biết, tre chọn làm đũa thường từ hai năm tuổi trở lên để đảm bảo độ cứng. Tính đặc ruột của loài tre này cũng giúp hạn chế nước thấm vào bên trong, ít bị nấm mốc. Đặc biệt, sau thời gian dài sử dụng, đôi đũa tre xiêm còn trở nên bóng mịn hơn, mà dân gian hay gọi là đũa “lên nước”.
Từ bàn tay người thợ
Ghé thăm “xưởng” làm đũa của gia đình chị Võ Thị Kiều Khoa (40 tuổi), bắt gặp cảnh chị vừa gom những bó đũa phơi trước sân, vừa thoăn thoắt xếp chúng thành từng chồng gọn gàng. Chị Khoa hào hứng giới thiệu các công đoạn để làm nên một đôi đũa tre hoàn chỉnh. Đầu tiên là đốn tre và cưa khúc. Tre xiêm được cưa thành từng lóng dài khoảng 25-30cm, tất nhiên phải rất cẩn thận để không làm nứt thân. Tiếp theo, thợ tiếp tục chẻ và rọc thành các thanh phôi vuông nhỏ. Khâu này thường do những người lành nghề đảm nhiệm, để các phôi đũa có kích thước đồng đều. Phôi đũa tiếp tục được bào và chuốt đầu cho nhỏ lại. Người thợ sử dụng những chiếc bào tay chuyên dụng, lướt trên bề mặt phôi tre để biến thanh vuông thành thanh tròn thon gọn. Độ tròn, độ thẳng của chiếc đũa gần như phụ thuộc hoàn toàn vào cảm giác của đôi tay, làm sao để đôi đũa thành phẩm phải thẳng, bề mặt nhẵn bóng, đầu đũa được chuốt tròn vừa đủ, không quá lớn hoặc quá nhỏ.
Sau khi vót xong, những bó đũa tre được đem phơi nắng. Lúc này, khoảng sân trước mỗi nhà trong xóm thường phủ kín những lớp đũa trắng ngà trải dài, thậm chí được phơi dọc hai bên lộ. Đũa được phơi nắng từ ba đến bảy “nắng” sẽ khô, giữ được màu trắng ngà tự nhiên mà không cần các chất tẩy trắng.
Để làm ra một mẻ đũa hoàn chỉnh cũng cần sự góp sức của cả gia đình. Chị Khoa nói người dân ở đây thường tính theo “thiên”, tức là 1.000 đôi đũa. “Muốn làm xong một thiên, thường phải cỡ bốn người làm trong một ngày”, theo chị. Cứ 1.000 đôi đũa bán ra chợ có thể thu lại khoảng hai triệu đồng, trừ vốn, chia ra mỗi người cũng được vài trăm ngàn cho một ngày công. Với nhiều gia đình, đặc biệt là phụ nữ, nghề làm đũa trở thành công việc linh hoạt có thể tranh thủ lúc rảnh rỗi. Nhờ nghề này, nhiều hộ có thể trang trải chi phí sinh hoạt, tiền học cho con cái mà không phải đi làm xa.
Thế nhưng, nghề truyền thống này cũng đang đối mặt với không ít khó khăn. Sự xuất hiện ngày càng nhiều của các loại đũa nhựa, đũa inox hay đũa gỗ công nghiệp khiến thị trường đũa tre bị thu hẹp. Từ thời điểm trăm hộ làm nghề, nay xóm đũa chỉ còn khoảng hai chục gia đình gắn bó. Dẫu vậy, những người thợ đang bám nghề vẫn tin rằng nghề làm đũa tre nơi đây sẽ còn được gìn giữ. Vì như lời chị Hoa: “Chị em tôi chỉ mong bà con còn tiếp tục làm đều đặn để xóm đũa này còn tồn tại. Nghề này là một phần ký ức, kỷ niệm của xóm này, còn làm là còn nhắc nhớ nhau về một thời rực rỡ của nghề…”.
Một buổi chiều ghé xóm đũa Tân Long, nhiều căn nhà vẫn còn những bó tre được chẻ gọn gàng, từng mẻ đũa vàng phơi dưới nắng. Nhịp sống ngày một nhanh và biến đổi, những đôi đũa tre đơn sơ vẫn lặng lẽ ra đời mỗi ngày, như một cách để người dân giữ lại hơi thở của một làng nghề đã gắn bó với vùng đất này non nửa thế kỷ.
Anh Thư
Bình luận