Giữa vùng chuyên canh cây ăn trái và ruộng lúa trải dài ở miền Tây Nam Bộ, có một làng nghề lặng lẽ tồn tại suốt nhiều thập niên, đó là làng trầu Vị Thủy, nay thuộc xã Vĩnh Thuận Đông, TP Cần Thơ.
Nơi này có khoảng 40 héc ta trồng trầu với gần 200 vườn lớn nhỏ nằm nối tiếp nhau dọc những con lộ nhỏ sâu hút. Khởi đầu từ vài dây trầu được mang về trồng để phục vụ tục ăn trầu của người già ngày trước, sau dần hình thành nên một “vương quốc” trầu lá hiếm hoi còn tồn tại ở Đồng bằng sông Cửu Long.
Không chỉ là một nghề
Từ trung tâm TP Vị Thanh cũ, chạy chừng hơn 10 cây số, men theo những con đường bê tông nhỏ chưa đầy 2 thước chiều ngang, là tới khu vực làng trầu Vị Thủy, nằm chủ yếu ở ấp 5 và ấp 7, xã Vĩnh Thuận Đông. Càng đi sâu vào bên trong, màu xanh của trầu càng hiện rõ. Những hàng nọc được dựng thẳng tắp nối nhau thành từng lớp dài hun hút, dây trầu leo ken dày, phủ kín thành những bức tường lá mướt mắt.
Nghề trồng trầu ở đây xuất hiện từ khi nào, hiện tại dường như không ai còn nhớ rõ. Người dân chỉ ước chừng nghề đã tồn tại hơn nửa thế kỷ. Vừa đi xả đường nước tưới trầu, ông Nguyễn Hồng Cường, 66 tuổi, chậm rãi kể cho chúng tôi nghe những ngày đầu tiên cây trầu bén rễ trên vùng đất này. Theo lời ông Cường, mẹ ông là một trong những người đầu tiên mang giống trầu về trồng tại khu vực Vị Thủy bây giờ: “Hồi đó còn chiến tranh, mẹ tôi muốn mua trầu cho ông bà ngoại ăn mà tìm không ra. Mấy ông bà già hồi xưa thì quen ăn trầu rồi, thành ra mẹ tôi mới lặn lội đi xin giống đem về trồng, chủ yếu xài trong nhà thôi”. Chỉ trồng vài dây trầu trồng bên hông nhà, không ngờ phát triển rất tốt. Nhờ lớp phù sa ven sông Hậu và nguồn nước ngọt quanh năm, lá trầu xanh đậm, dày lá và có vị cay nồng rõ vị hơn nhiều nơi khác. Từ đó, gia đình ông Cường tiếp tục nhân giống cho bà con lối xóm. Lúc đầu, người dân trồng chủ yếu để phục vụ những người lớn tuổi còn giữ thói quen cũ. Dần dà, trầu Vị Thủy theo ghe thương lái đi khắp nơi rồi trở thành mặt hàng được tìm mua vào các dịp cưới hỏi, cúng kiếng hay lễ Tết. Song, phải tới khoảng những năm 1990, làng trầu mới thực sự bước vào thời hoàng kim. Khi ấy, nhiều hộ dân nhận ra cây trầu mang lại nguồn thu nhập cao hơn hẳn lúa hay mía trên cùng diện tích đất. Những vườn tạp bắt đầu được cải tạo, những dây trầu mọc lên ngày một nhiều hơn. Từ vài hộ trồng nhỏ lẻ, cả vùng dần hình thành những khu chuyên canh nối tiếp nhau.
Dễ trồng, khó chăm
Cây trầu, vì là thân leo nên phải sống bám vào các cây trụ dựng sẵn, gọi là nọc trầu. Theo ông Cường, vùng này thường chuộng dùng cây tràm để làm nọc vì loại gỗ này chịu nước tốt, ít mục, lại có lớp vỏ giúp rễ trầu bám chắc hơn. Mỗi nọc cao khoảng hai mét, được cắm thẳng hàng trên những liếp đất đắp cao để tránh ngập úng vào mùa mưa. Nhìn từ xa, cả khu vườn giống như một mê cung xanh với những hàng nọc dựng đều tăm tắp. Ông Cường vừa dẫn chúng tôi len giữa các luống trầu vừa chỉ cho thấy khoảng cách giữa các nọc, tất cả phải được tính toán kỹ lưỡng để dây trầu có độ thông thoáng nhất định. “Nếu trồng dày quá là hơi nước bí lại, ẩm mốc, dễ sinh nấm bệnh lắm”, ông nói. Ngoài việc dựng nọc, nhiều hộ còn phủ lưới kín phía trên vườn trầu để hạn chế nắng gắt chiếu trực tiếp. Ông giải thích: “Thương lái mua cũng tùy màu sắc lá. Lá xanh đậm bán được giá hơn lá ngả vàng khoảng năm trăm đồng một ốp. Thành ra ai ở đây cũng che lưới hết, để giữ được giá tốt hơn”. Mỗi dây trầu vùng này đều cần được chăm sóc liên tục. Thông thường sau khoảng 12 tháng, người dân sẽ cắt bỏ gần hết phần thân già để “lên trầu” mới, chỉ giữ lại phần gốc cho cây tiếp tục phát triển. Ngoài ra còn có công đoạn gọi là “xuống trầu”. Khi cây leo vượt quá chiều cao quy định, người trồng phải cắt phần ngọn rồi giâm xuống đất để dây mới tiếp tục leo lên nọc.
Ở góc vườn, ông Tư Sum, sui gia của ông Cường, đang ngồi cắt từng đoạn dây trầu để chuẩn bị giâm xuống luống mới. Tay cầm đoạn thân trầu dài chừng gần mét, ông chỉ vào những chùm rễ nhỏ li ti mọc dọc theo thân dây, nói: “Cắt chừng 7 tấc tới 1 thước là vừa. Chừa lại mấy lá trên ngọn cho nó quang hợp”. Theo ông Tư, trồng trầu nhìn qua tưởng đơn giản nhưng thật ra đòi hỏi sự kỹ lưỡng, chăm sóc từng chút một. “Cây này trồng hơi mất công chăm, phải làm sao cho lá lúc hái được xanh, bóng, to đều. Ở đây đa số xài phân hữu cơ, ít ai xịt thuốc sâu. Lá nào bị đốm bệnh thì lặt bỏ”, ông kể.
Buổi chiều, khoảng sân trước nhà ông Cường lúc này là nơi tập trung để ngồi đếm lá, đóng gói chở ra vựa. Trên những tấm bạt trải dưới nền xi măng, lá trầu được xếp thành từng ốp ngay ngắn. Mỗi “ốp” như vậy gồm 40 lá trầu, được tuyển lựa khá kỹ. Lá phải to đều, mặt lá xanh bóng, không rách, không sâu hay có đốm bệnh. Chỉ cần vài lá bị lem màu hoặc không đồng cỡ là phải “dạt” ra.
Nguồn thu bền vững
Cây trầu cho thu hoạch đều quanh năm. Khoảng thời gian từ tháng 10 Âm lịch kéo dài tới Tết là mùa nhộn nhịp nhất của làng nghề. Đây là lúc nhu cầu trầu cau cho cưới hỏi, cúng lễ tăng mạnh, nên giá bán cũng cao hơn thường ngày. Ông Cường cho biết đợt Tết vừa rồi, mỗi ốp trầu có lúc lên tới 14-16 ngàn đồng. Bình quân khoảng 10-12 ngày người dân sẽ hái một đợt. Nhưng thời điểm hiện tại, sức mua chậm hơn, thương lái gần một tháng mới gom hàng một lần, giá chỉ còn khoảng 3.500 đồng mỗi ốp. Dẫu vậy, với nhiều hộ dân nơi đây, trầu vẫn là nguồn sống chính. Trung bình mỗi năm, một hộ trồng trầu có thể thu nhập trên dưới 100 triệu đồng nếu chăm sóc ổn định và giữ được sản lượng đều.
Không chỉ mang lại sinh kế cho những gia đình có đất canh tác, nghề trồng trầu còn tạo việc làm cho nhiều lao động địa phương, đặc biệt là phụ nữ lớn tuổi. Bà Hồ Thị Lum, 65 tuổi, vừa trở về sau một ngày đi hái trầu thuê, xởi lởi: “Công việc này cũng nhẹ nhàng, lúc rảnh thì đi làm thêm kiếm đồng ra đồng vô. Mình chỉ hái rồi xếp thành từng ốp thôi. Bên vựa họ đặt bao nhiêu thì mình làm bấy nhiêu. Một ngày cũng được trăm rưỡi, hai trăm”.
Giữa lúc nhiều làng nghề truyền thống ở miền Tây dần thu hẹp, những hàng trầu xanh ở Vị Thủy vẫn lặng lẽ nối dài qua từng mùa nắng mưa. Từ những dây trầu từng được trồng để duy trì tục ăn trầu, người dân nơi đây đã gây dựng nên cả một vùng chuyên canh tồn tại suốt hơn nửa thế kỷ qua. Những liếp trầu nối nhau dọc các con lộ nhỏ vừa giữ sinh kế cho nhiều hộ dân, vừa tạo nên một nét riêng của vùng quê ven sông Hậu này.
Anh Thư
Bình luận